ThS. GV Nguyễn Mạnh Hải - Khoa Nhà nước và pháp luật
Quản trị địa phương (local governance) là phương thức tổ chức, vận hành quyền lực công ở cấp cơ sở nhằm cung ứng dịch vụ công, giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân. Mô hình quản trị truyền thống, vận hành chủ yếu theo cơ chế mệnh lệnh hành chính, phân cấp cứng và quy trình giấy tờ, đang bộc lộ nhiều hạn chế trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế: bộ máy cồng kềnh, thông tin phân tán, thiếu liên thông dữ liệu, năng lực dự báo và ra quyết định dựa trên bằng chứng còn yếu. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc mô hình quản trị địa phương theo hướng tinh gọn, hiện đại, minh bạch, lấy dữ liệu số và tri thức khoa học làm nền tảng vận hành. Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới quản trị địa phương trên nền tảng đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ và chuyển đổi số.
Để có cơ sở luận giải cho những vấn đề đặt ra, trước hết cần thống nhất cách hiểu về một số khái niệm nền tảng.
- Quản trị địa phương hiện đại được tiếp cận là quá trình chính quyền cấp cơ sở phối hợp với các chủ thể xã hội (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, người dân) trong việc hoạch định, thực thi và giám sát chính sách công, dựa trên nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia.
- Đổi mới sáng tạo trong khu vực công (public sector innovation) là việc tạo ra và áp dụng những ý tưởng, quy trình, công nghệ hoặc mô hình tổ chức mới nhằm gia tăng giá trị công.
- Chuyển đổi số trong quản trị địa phương là quá trình ứng dụng dữ liệu số, nền tảng số và công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, IoT) để thay đổi căn bản phương thức quản lý, điều hành và cung ứng dịch vụ công.
Trên cơ sở các khái niệm đó, nghiên cứu xây dựng khung phân tích quản trị địa phương đổi mới dựa trên sự tương tác của ba trụ cột: đổi mới khoa học, công nghệ, cung cấp tri thức, công cụ phân tích và giải pháp kỹ thuật; đổi mới sáng tạo về thể chế, tổ chức và phương thức quản trị, tạo không gian thử nghiệm chính sách (sandbox) và cơ chế khuyến khích sáng kiến; và chuyển đổi số, đóng vai trò hạ tầng và phương tiện kết nối, tích hợp dữ liệu liên thông giữa các cấp chính quyền và giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp. Ba trụ cột này có quan hệ biện chứng: khoa học, công nghệ định hướng nội dung đổi mới, thể chế tạo hành lang pháp lý, còn chuyển đổi số là công cụ hiện thực hóa, tạo thành một hệ sinh thái quản trị thông minh (smart governance ecosystem).
Vận dụng khung phân tích nêu trên để nhìn nhận thực tiễn Việt Nam thời gian qua, có thể thấy nhiều địa phương đã chủ động triển khai Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, xây dựng Trung tâm điều hành thông minh (IOC), số hóa dữ liệu đất đai, y tế, giáo dục và đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính, chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo động lực để nhiều tỉnh, thành phố tái thiết kế quy trình nghiệp vụ theo hướng số hóa ngay từ đầu, giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Một số địa phương bước đầu hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, hợp tác với viện, trường và doanh nghiệp công nghệ để thử nghiệm giải pháp trí tuệ nhân tạo trong giám sát đô thị, cảnh báo thiên tai và phân tích dữ liệu kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu đáng ghi nhận, quá trình đổi mới quản trị địa phương cũng bộc lộ không ít hạn chế. Trước hết, hạ tầng số và dữ liệu giữa các ngành, các cấp còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và liên thông, gây khó khăn cho việc khai thác dữ liệu phục vụ ra quyết định. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực quản trị có kỹ năng số và tư duy đổi mới sáng tạo còn thiếu và chưa đồng đều giữa các vùng, miền. Cùng với đó, cơ chế, chính sách khuyến khích sáng kiến, thử nghiệm mô hình mới (cơ chế sandbox) trong khu vực công chưa hoàn thiện, còn e ngại rủi ro pháp lý. Cuối cùng, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ở cấp cơ sở còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra. Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên xuất phát từ tư duy quản lý hành chính truyền thống còn nặng về kiểm soát đầu vào, thiếu cơ chế đo lường hiệu quả đầu ra; đồng thời quá trình thể chế hóa các chủ trương lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào thực tiễn quản trị địa phương còn có độ trễ nhất định.
Xuất phát từ thực trạng và những nguyên nhân nêu trên, việc đổi mới quản trị địa phương trên nền tảng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ theo nhiều hướng:
Trước tiên, cần hoàn thiện thể chế, tạo không gian thử nghiệm chính sách: xây dựng khung pháp lý cho phép chính quyền địa phương thử nghiệm có kiểm soát các mô hình quản trị mới, công nghệ mới (cơ chế sandbox cấp địa phương), gắn với cơ chế đánh giá rủi ro và trách nhiệm giải trình rõ ràng; đồng thời phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho cơ sở đi đôi với tăng cường giám sát bằng dữ liệu số thay vì kiểm soát thủ tục hành chính.
Song song với đó, cần phát triển hạ tầng dữ liệu và nền tảng số dùng chung, cụ thể là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung liên thông giữa các ngành, các cấp theo nguyên tắc “một dữ liệu, nhiều mục đích sử dụng”; phát triển các nền tảng số dùng chung (nền tảng dịch vụ công, nền tảng giám sát - điều hành thông minh) làm hạ tầng nền tảng cho quản trị dựa trên dữ liệu (data-driven governance). Trên nền tảng thể chế và hạ tầng dữ liệu đó, cần tiếp tục thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với địa phương thông qua khuyến khích liên kết “ba nhà” (chính quyền - viện, trường - doanh nghiệp) hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo vùng, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo giải quyết bài toán quản trị đô thị, nông nghiệp thông minh, môi trường; đồng thời xây dựng cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn quản trị địa phương.
Muốn các giải pháp trên phát huy hiệu quả, không thể thiếu yếu tố con người, do đó cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực số và văn hóa đổi mới thông qua đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, tư duy dữ liệu và năng lực đổi mới sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp; xây dựng văn hóa tổ chức khuyến khích sáng kiến, chấp nhận thử nghiệm và học hỏi từ thất bại có kiểm soát, thay vì tư duy “an toàn, đúng quy trình” một cách cứng nhắc.
Cuối cùng, để bảo đảm các giải pháp nêu trên được triển khai thực chất và đo lường được hiệu quả, cần hoàn thiện cơ chế đo lường và đánh giá hiệu quả quản trị số, thông qua xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ trưởng thành số (digital maturity index) và hiệu quả quản trị địa phương theo hướng lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và kết quả phát triển kinh tế - xã hội làm thước đo cuối cùng, gắn kết quả đánh giá với trách nhiệm người đứng đầu.
Tóm lại, đổi mới quản trị địa phương dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ và chuyển đổi số là xu thế tất yếu, phù hợp với chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về tinh gọn bộ máy và phát triển khoa học, công nghệ trong giai đoạn mới. Việc kết hợp đồng bộ ba trụ cột thể chế - khoa học công nghệ - chuyển đổi số sẽ tạo nền tảng cho một mô hình quản trị địa phương thông minh, linh hoạt, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có lộ trình triển khai đồng bộ, nguồn lực đầu tư thỏa đáng và quyết tâm chính trị mạnh mẽ từ cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò tiên phong của đội ngũ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Nguyễn Đình Tài (2022), “Quản trị địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số: kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước.
4. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.