ThS, GVC. Nguyễn Tiến Lực - Khoa Nhà nước và pháp luật
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài viết, nhiều bài nói chuyện liên quan đến giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó có tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Người viết vào tháng 10 năm 1947, với bút danh là: X. Y. Z và Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu vào năm 1948. Tác phẩm gồm có 6 chương, trong đó tại Chương I với tiêu đề “Phê bình và sửa chữa”, Bác đã chỉ ra một số hạn chế của cán bộ và đảng viên ta và yêu cầu “ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình”[1].
Vậy, tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại yêu cầu các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình? Bởi vì, theo Người: “Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang”[2]. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn cán bộ, đảng viên làm việc không đúng, không khéo, còn nhiều khuyết điểm, mà khuyết điểm nhiều thì thành tích sẽ ít.
Vậy, những khuyết điểm đó là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khuyết điểm có nhiều thứ, nhưng có ba hạng sau:
Thứ nhất là “bệnh chủ quan”. Nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận; khinh lý luận hoặc lý luận suông, bởi theo Người: “Lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế; không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Do đó, lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. “Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”[3].
Thứ hai là “bệnh hẹp hòi”. Nguyên nhân của bệnh này là bởi có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể. Theo Người, bệnh này trong thì ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết; ngoài thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Vì vậy, đây là bệnh rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải, và từ bệnh này làm nảy sinh nhiều thứ bệnh khác như: chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá,…Đặc biệt là bệnh ham danh vọng và địa vị, bởi theo Người: “vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưu ái thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng”[4].
Thứ ba là “bệnh ba hoa”. “Ba hoa” theo cách hiểu thông thường tức là nói nhiều, phóng đại quá sự thật, có ý khoe khoang “thùng rỗng kêu to”…
Theo Người, thói ba hoa có nhiều vẻ như: Dài dòng, rỗng tuếch; báo cáo lông bông; nói không ai hiểu và bệnh hay nói chữ. Hay nói khác đi, thói ba hoa được biểu hiện như: Nói ba hoa, viết ba hoa, làm việc ba hoa, "có ít suýt ra nhiều” ; báo cáo thì hay, làm thì làm dở, nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít, từ đó thành người sống ba hoa. Sống ba hoa - ắt tìm mọi cách để chứng minh "nhất ta, nhì thiên hạ”, từ đó nhìn vấn đề một cách phiến diện, xa rời thực tế khách quan. Thậm chí, còn soi mói hạn chế của người khác để "dìm” họ xuống và đánh bóng tên tuổi của mình… Cán bộ, đảng viên mắc phải “bệnh” này rất dễ là nguồn cơn ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức, gây hệ lụy khó lường. Nguyên nhân của bệnh này cũng từ bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi mà ra, vì vậy theo Người: “chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia…Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa hẳn chữa khỏi”[5].
Một trong những nhiệm vụ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tiếp tục xác định: “Thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên,…”[6]. Để thực hiện tốt yêu cầu trên thì mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc “tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình” ở trên một cách thẳng thắn, trung thực, xây dựng và giúp đỡ nhau để mỗi người hễ thấy khuyết điểm phải tự mình kiên quyết khắc phục, sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Mỗi người phải thực hiện nghiêm nguyên tắc “tự phê bình và phê bình”; thấy cái đúng, cái hay phải ủng hộ, ra sức bảo vệ; thấy cái sai, cái xấu phải quyết tâm sửa chữa, góp ý, phê bình nếu cần phải kiên quyết xử lý, không được nể nang, né tránh, “ngậm miệng ăn tiền”; không được xa vào chủ nghĩa cá nhân; không được trốn tránh nhiệm vụ mà phải tích cực, hăng hái, chuyên tâm, gương mẫu, đổi mới, sáng tạo trong việc thực thi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, qua đó góp phần làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh toàn tập: tập 4, Nxb Sự thật, HN.1984
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, t.I.
[1],2 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, HN. 1984, tr.443.
[3],4 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, HN. 1984, tr.447.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, HN. 1984, tr.452-529.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sực thật, t.1, tr.132.