Tự chủ chiến lược – điểm phát triển mới trong tư duy xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng tại Đại hội XIV

12/10/2026

  • lượt xem: 2

ThS. GVC Vũ Thị Thi - Khoa Xây dựng Đảng

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh luôn là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Qua các kỳ Đại hội, tư duy của Đảng về quốc phòng, quân sự và xây dựng Quân đội không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn. Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến chuyển sâu sắc; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột, bất ổn gia tăng; khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức phát triển cũng như phương thức tiến hành chiến tranh. Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV đã đặt “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin” ở vị trí nổi bật trong định hướng phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Như Diễn văn khai mạc khẳng định: “Đại hội XIV của Đảng là sự kiện trọng đại của đất nước, bước ngoặt mang tính lịch sử, tập trung cao độ ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta với tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh vào kỷ nguyên mới”(1). Điều đó cho thấy tự chủ chiến lược không chỉ là yêu cầu đối với một lĩnh vực riêng biệt mà đã trở thành một nội dung quan trọng, xuyên suốt trong tư duy phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV tiếp tục làm rõ tinh thần đó khi khẳng định Đại hội XIV “là Đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn” (2). Tự chủ chiến lược trước hết bắt nguồn từ bản lĩnh, ý chí tự quyết và khát vọng vươn lên của dân tộc; đồng thời là khả năng chủ động xác định mục tiêu, lựa chọn con đường phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong một thế giới biến động nhanh chóng. Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập mà là nâng cao năng lực tự quyết trên cơ sở phát huy nội lực, đồng thời chủ động hội nhập và tranh thủ ngoại lực. Trong lĩnh vực quốc phòng, điều đó thể hiện ở khả năng chủ động chuẩn bị tiềm lực, lực lượng, thế trận và nguồn lực quốc gia, bảo đảm đất nước đủ năng lực xử lý các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Tự chủ chiến lược vì vậy phải gắn chặt với phát triển đất nước. Đại hội xác định: “Thực hiện tự chủ chiến lược phát triển, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển...”(3). Phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh có quan hệ chặt chẽ, tạo tiền đề và sức mạnh cho nhau. Một nền kinh tế phát triển, có sức chống chịu cao, khoa học - công nghệ tiên tiến và nguồn lực quốc gia vững mạnh chính là cơ sở vật chất quan trọng để tăng cường tiềm lực quốc phòng. Ngược lại, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc sẽ tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Vì vậy, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược về quốc phòng phải được đặt trong tổng thể xây dựng và phát triển đất nước, trong đó sức mạnh quốc phòng là một bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Từ nhận thức đó, tư duy bảo vệ Tổ quốc tại Đại hội XIV tiếp tục có bước phát triển phù hợp với những biến đổi của môi trường an ninh. Văn kiện chỉ rõ: “An ninh trong giai đoạn mới không chỉ là an ninh biên giới, lãnh thổ... Vì vậy, phát triển bền vững và tự chủ chiến lược phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ nơi xuất phát”(4). Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là bảo vệ biên giới, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển mà còn phải bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, xã hội, thông tin, dữ liệu, không gian mạng và các lợi ích quốc gia trong những không gian chiến lược mới. Từ đó đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ chủ động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, dự báo và ngăn chặn nguy cơ; nâng cao năng lực nhận diện, đánh giá và xử lý hiệu quả các tình huống ngay từ khi mới xuất hiện, không để nguy cơ phát triển thành những thách thức lớn đối với an ninh, quốc phòng.

Tuy nhiên, tự chủ chiến lược không có nghĩa là tự cô lập. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam tiếp tục chủ động mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh. Trong lĩnh vực này, cấp độ hội nhập còn tùy thuộc vào điều kiện, tình hình cụ thể “trên nguyên tắc bảo đảm và ưu tiên cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” (5). Như vậy, tự chủ chiến lược cần được hiểu là sự kết hợp giữa tự lực, tự cường với chủ động hội nhập; giữa phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực, qua đó gia tăng sức mạnh và vị thế quốc gia. Đối với quốc phòng, hợp tác quốc tế vừa góp phần nâng cao năng lực, kinh nghiệm và vị thế của Việt Nam, vừa phải được tiến hành trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và quyền tự quyết về những vấn đề có ý nghĩa chiến lược.

Trong tổng thể đó, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng. Tự chủ chiến lược trước hết đòi hỏi phải có một Quân đội đủ mạnh, có khả năng làm chủ tình hình và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIV tiếp tục xác định xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đồng thời chú trọng hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng. Điểm đáng chú ý là hiện đại hóa Quân đội ngày càng gắn với tự chủ về tri thức, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực và công nghiệp quốc phòng. Trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, sức mạnh của Quân đội không chỉ phụ thuộc vào số lượng, chất lượng vũ khí, trang bị mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu, làm chủ và ứng dụng công nghệ mới.

Bởi vậy, xây dựng Quân đội hiện đại phải gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, chuyên gia và cán bộ chỉ huy có khả năng làm chủ công nghệ. Cùng với đó là đẩy mạnh nghiên cứu lý luận quân sự, tổng kết thực tiễn, phát triển nghệ thuật quân sự và phương thức tác chiến phù hợp với những thay đổi của chiến tranh hiện đại. Tự chủ quốc phòng, xét đến cùng, không chỉ là tự chủ về vũ khí, trang bị mà còn là tự chủ về tư duy, tri thức, con người và khả năng sáng tạo. Đây là nền tảng để Quân đội có thể thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học - công nghệ và những phương thức tác chiến mới.

Một trong những biểu hiện trực tiếp của năng lực tự chủ chiến lược là xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường. Văn kiện Đại hội XIV xác định: “Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; chú trọng tăng đầu tư hợp lý cho quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân...”(6). Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV xác định nhiệm vụ “xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”(7). Đây là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược, bởi một nền quốc phòng hiện đại không thể chỉ dựa vào mua sắm trang bị từ bên ngoài mà phải từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật và làm chủ công nghệ trong nước.

Tính “lưỡng dụng” của công nghiệp quốc phòng cũng thể hiện rõ tư duy kết hợp sức mạnh quốc phòng với sức mạnh kinh tế. Phát triển công nghiệp quốc phòng không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang mà còn góp phần phát triển công nghiệp quốc gia, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Qua đó hình thành mối liên kết giữa xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, giữa phát triển khoa học - công nghệ với nâng cao tiềm lực quân sự. Để thực hiện mục tiêu này, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh “nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và khả năng huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu mọi tình huống quốc phòng, an ninh”(8).

Trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, năng lực tự chủ quốc phòng ngày càng phụ thuộc vào khả năng làm chủ tri thức và công nghệ. Văn kiện Đại hội XIV xác định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số... là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh”(9). Vì vậy, xây dựng năng lực khoa học - công nghệ phục vụ quốc phòng phải được coi là một nội dung quan trọng của tự chủ chiến lược. Văn kiện yêu cầu “tập trung nâng cao năng lực sản xuất một số ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ, tự cường về khoa học, công nghệ”(10), đồng thời “chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, khẳng định chủ quyền ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế” (11). Đối với quốc phòng, yêu cầu này càng có ý nghĩa trong việc làm chủ những công nghệ chiến lược, nâng cao khả năng tự nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ trong nước.

Tự chủ chiến lược cũng phải được chuyển hóa thành sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Cùng với xây dựng Quân đội hiện đại và công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường, cần tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng. Trong điều kiện xuất hiện những phương thức chiến tranh mới, năng lực tự chủ cần được mở rộng sang cả không gian mạng, chiến tranh thông tin và các lĩnh vực công nghệ cao. Điều đó cho thấy tự chủ chiến lược ngày nay không chỉ gắn với biên giới, lãnh thổ hay sức mạnh quân sự truyền thống mà còn gắn với khả năng bảo vệ dữ liệu, hạ tầng số, thông tin và các lợi ích quốc gia trong những không gian chiến lược mới.

Có thể thấy, Đại hội XIV của Đảng đã phát triển tư duy về tự chủ chiến lược lên một tầm cao mới, gắn tự chủ với tự lực, tự cường, tự tin và khát vọng phát triển. Trong lĩnh vực quốc phòng, tư duy đó được cụ thể hóa thành yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; làm chủ khoa học - công nghệ và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Điểm phát triển mới có ý nghĩa sâu sắc là tự chủ chiến lược không chỉ là mục tiêu mà còn là phương thức nâng cao sức mạnh quốc phòng và khả năng bảo vệ Tổ quốc: tự chủ để không bị động; tự lực, tự cường để có đủ sức mạnh; làm chủ khoa học - công nghệ để tạo nền tảng cho hiện đại hóa; chủ động hội nhập để tranh thủ nguồn lực và nâng cao vị thế quốc gia.

Đúng như tinh thần xuyên suốt được Đại hội XIV xác định: “Tự chủ chiến lược, nắm chắc thời cơ, chung sức đồng lòng, vượt qua mọi thách thức, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển; biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể...” (12). Tinh thần đó không chỉ là phương châm hành động của nhiệm kỳ XIV mà còn là định hướng quan trọng để xây dựng Quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân, tạo dựng thế và lực mới, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 (1), (2), (4), (6), (9), (10), (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2026, tập I, tr.7, tr.13, tr.34, tr.114, tr.31, tr.158, tr.106.

(3), (5), (7), (8), (12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2026, tập II, tr.259, tr.233, tr.264, tr.279, tr.397.