Quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trong những quyết định đặc biệt trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đằng sau quyết định ấy là phương pháp nhìn nhận thực tiễn, bản lĩnh điều chỉnh phương án, phát huy trí tuệ tập thể và tinh thần chịu trách nhiệm của người lãnh đạo.
1. Khái quát Chiến dịch Điện Biên Phủ và quyết định lịch sử của đại tướng Võ Nguyên Giáp
Cuối năm 1953, đầu năm 1954, Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược giữa ta và thực dân Pháp. Phía Pháp từng bước xây dựng nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, được tổ chức thành hệ thống phòng ngự liên hoàn, có pháo binh, xe tăng và không quân hỗ trợ. Về phía ta, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết tâm mở Chiến dịch Điện Biên Phủ; Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận. Cả nước huy động sức người, sức của cho chiến trường với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.
Trong quá trình chuẩn bị, phương châm tác chiến ban đầu là “đánh nhanh, thắng nhanh” (một số tài liệu quân sự diễn đạt là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”). Tuy nhiên, tình hình thực tế thay đổi nhanh chóng: quân Pháp tăng cường binh lực và củng cố công sự; việc kéo pháo và bảo đảm hiệp đồng giữa bộ binh, pháo binh, phòng không của ta còn nhiều khó khăn; kinh nghiệm đánh một tập đoàn cứ điểm mạnh bằng hiệp đồng binh chủng quy mô lớn còn hạn chế.
Trước tình hình đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục kiểm tra, nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng. Ngày 26/01/1954, Đảng ủy Mặt trận họp bàn phương án tác chiến. Trên cơ sở phân tích tình hình và yêu cầu bảo đảm chắc thắng, Đại tướng đi đến quyết định chuyển phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”; hoãn cuộc tiến công, đưa bộ đội về vị trí tập kết, kéo pháo ra và tổ chức chuẩn bị lại chiến dịch.
Đây là một quyết định rất khó khăn. Bộ đội đã vào vị trí, nhiều công việc chuẩn bị đã được triển khai, tinh thần chiến đấu đang lên cao. Thay đổi phương án đồng nghĩa với việc phải tổ chức lại một khối lượng công việc rất lớn. Nhưng nếu chỉ vì công sức đã bỏ ra mà tiếp tục một phương án không còn bảo đảm điều kiện chắc thắng thì nguy cơ tổn thất sẽ rất lớn. Chính ở thời điểm đó, bản lĩnh và trách nhiệm của người chỉ huy được thể hiện rõ: không để sức ép của kế hoạch cũ lấn át sự đánh giá khách quan về thực tiễn.
Sau khi chuyển phương châm, ta có thêm thời gian chuẩn bị trận địa, hậu cần, hiệp đồng lực lượng và xây dựng cách đánh phù hợp. Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Sau 56 ngày đêm chiến đấu, đến ngày 07/5/1954, quân và dân ta giành thắng lợi. Nhìn từ góc độ lãnh đạo, ý nghĩa của quyết định ngày 26/01/1954 không chỉ nằm ở việc thay đổi một phương án tác chiến, mà còn thể hiện một phương pháp ra quyết định: lấy thực tiễn làm căn cứ, đặt mục tiêu chung lên trên phương án đã định và dám chịu trách nhiệm trước lựa chọn của mình.
2. Những bài học rút ra từ việc ra quyết định
Một là, tôn trọng thực tiễn, không để ý chí chủ quan thay thế sự thật khách quan. Quyết tâm là điều kiện quan trọng của hành động, nhưng quyết tâm chỉ có giá trị khi gắn với việc đánh giá đúng tình hình. Quyết định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho thấy người lãnh đạo phải thường xuyên kiểm tra những giả định ban đầu, cập nhật thông tin mới và nhìn thẳng vào những hạn chế của chính mình. Một kế hoạch đã được thông qua không có nghĩa là thực tiễn phải vận động theo kế hoạch đó.
Hai là, kiên định mục tiêu nhưng không cứng nhắc về phương pháp. Mục tiêu tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ không thay đổi; điều thay đổi là cách thức để đạt mục tiêu. Đây là điểm rất quan trọng trong tư duy lãnh đạo. Kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ; linh hoạt không đồng nghĩa với dao động. Người lãnh đạo cần phân biệt rõ cái gì thuộc về mục tiêu, nguyên tắc phải giữ vững và cái gì thuộc về biện pháp, cách làm có thể điều chỉnh theo điều kiện cụ thể.
Ba là, dám nhìn lại quyết định và dám thay đổi khi có căn cứ. Thay đổi một phương án đã chuẩn bị công phu luôn tạo ra sức ép. Nó có thể làm phát sinh thêm công việc, chi phí và cả những băn khoăn trong tổ chức. Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo không chỉ thể hiện ở việc đưa ra quyết định ban đầu mà còn ở khả năng nhận biết thời điểm phải điều chỉnh. Dám sửa một quyết định khi thực tiễn đã thay đổi là biểu hiện của trách nhiệm, nếu sự điều chỉnh được dựa trên căn cứ rõ ràng và hướng tới mục tiêu chung.
Bốn là, phát huy trí tuệ tập thể nhưng người đứng đầu không né tránh trách nhiệm. Cuộc họp Đảng ủy Mặt trận ngày 26/01/1954 diễn ra trong điều kiện có những ý kiến khác nhau về phương châm tác chiến. Việc thảo luận, phân tích giúp quyết định được xem xét từ nhiều góc độ. Tuy nhiên, sau khi đã có đủ thông tin và căn cứ, người chỉ huy phải đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm. Bài học ở đây là dân chủ trong chuẩn bị quyết định phải gắn với quyết đoán trong tổ chức thực hiện; phát huy tập thể không được biến thành tâm lý dựa dẫm hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Năm là, đặt hiệu quả cuối cùng và trách nhiệm đối với con người ở vị trí trung tâm. Việc chuyển phương châm tác chiến xuất phát từ yêu cầu bảo đảm chắc thắng và hạn chế những tổn thất không cần thiết. Điều đó cho thấy chất lượng của một quyết định không chỉ được đo bằng tốc độ ban hành hay mức độ quyết liệt trong thực hiện, mà trước hết bằng kết quả và hệ quả của nó. Người lãnh đạo phải tính đến nguồn lực, con người, khả năng tổ chức thực hiện và những rủi ro có thể phát sinh.
Quyết định chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là một dấu mốc thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch. Giá trị của quyết định ấy vượt ra ngoài phạm vi một sự kiện quân sự, gợi mở những bài học có ý nghĩa đối với công tác lãnh đạo, quản lý hôm nay. Những bài học đó cần được chuyển hóa thành phương pháp công tác cụ thể: gần dân, sát cơ sở; nắm chắc pháp luật và thẩm quyền; ra quyết định dựa trên thông tin, dữ liệu và thực tiễn; chủ động xử lý công việc; thường xuyên kiểm tra, đánh giá; kịp thời điều chỉnh; đồng thời lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm một trong những thước đo quan trọng lãnh đạo, quản lý.
Thứ nhất, nắm chắc địa bàn, sâu sát cơ sở và lấy thực tiễn làm điểm xuất phát. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã phải hiểu địa bàn mình phụ trách: đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội, nguồn lực, những vấn đề nổi lên và nhu cầu chính đáng của người dân. Không nên chỉ nắm tình hình qua báo cáo. Cần tăng cường đi cơ sở, đối thoại, tiếp công dân, kiểm tra thực tế và đối chiếu thông tin từ nhiều nguồn. Một quyết định càng gần đời sống người dân càng cần được xây dựng trên thông tin cụ thể, chính xác và kịp thời.
Thứ hai, nâng cao năng lực phân tích và ra quyết định trong phạm vi thẩm quyền. Khi phát sinh vấn đề, người lãnh đạo cần xác định rõ: vấn đề là gì, thuộc thẩm quyền của ai, căn cứ pháp lý nào điều chỉnh, nguồn lực nào có thể sử dụng, phương án nào khả thi và tác động đến người dân ra sao. Chủ động không phải là tùy tiện; quyết đoán phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, kiên định mục tiêu phục vụ Nhân dân nhưng linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Không phải mọi xã, phường đều có điều kiện giống nhau. Cùng một chủ trương nhưng đặc điểm dân cư, hạ tầng, nhân lực và mức độ ứng dụng công nghệ có thể khác nhau. Vì vậy, trong phạm vi pháp luật cho phép, cán bộ lãnh đạo cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp với địa bàn. Điều cần giữ vững là mục tiêu giải quyết công việc đúng pháp luật, thuận lợi, minh bạch và phục vụ người dân tốt hơn; phương pháp thực hiện phải có khả năng thích ứng.
Thứ tư, dám đổi mới, dám điều chỉnh và dám chịu trách nhiệm. Khi phát hiện cách làm chưa hiệu quả, cán bộ lãnh đạo cần chủ động rà soát, đề xuất điều chỉnh hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý. Không nên vì ngại trách nhiệm mà trì hoãn công việc; đồng thời cũng không vì mong muốn giải quyết nhanh mà bỏ qua quy định. Bản lĩnh của người cán bộ thể hiện ở khả năng lựa chọn phương án đúng pháp luật, khả thi và chịu trách nhiệm về quyết định thuộc thẩm quyền.
Thứ năm, phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể và xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng. Nhiều nhiệm vụ ở cấp xã liên quan đến nhiều bộ phận chuyên môn, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, thôn, tổ dân phố và người dân. Người đứng đầu cần biết huy động trí tuệ tập thể, tạo điều kiện để các ý kiến khác nhau được trao đổi trước khi quyết định. Khi đã thống nhất phương án, việc tổ chức thực hiện phải rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm và rõ kết quả; tránh tình trạng việc chung nhưng không xác định được người chịu trách nhiệm.
Thứ sáu, chuyển mạnh từ tư duy “hoàn thành thủ tục” sang tư duy “tạo ra kết quả”. Hiệu quả cuối cùng được thể hiện rất cụ thể: hồ sơ của người dân có được giải quyết đúng hạn không; thủ tục có thuận tiện không; phản ánh, kiến nghị có được xử lý không; các vấn đề về đất đai, an sinh, môi trường, trật tự ở địa bàn có được giải quyết thực chất không. Vì vậy, cán bộ lãnh đạo cần quan tâm đến kết quả đầu ra và trải nghiệm của người dân, thay vì chỉ đánh giá công việc qua số lượng văn bản hoặc cuộc họp.
Thứ bảy, sử dụng dữ liệu và công nghệ số để nâng cao chất lượng quyết định. Trong điều kiện chuyển đổi số, sâu sát thực tiễn không chỉ là trực tiếp xuống địa bàn mà còn là biết khai thác dữ liệu phục vụ quản lý. Cán bộ lãnh đạo cấp xã cần nâng cao năng lực sử dụng các hệ thống thông tin, theo dõi tiến độ giải quyết thủ tục, phân tích phản ánh của người dân và nhận diện sớm những điểm nghẽn. Dữ liệu không thay thế kinh nghiệm và tiếp xúc thực tế, nhưng có thể giúp quyết định nhanh hơn, chính xác hơn và minh bạch hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Võ Nguyên Giáp (2004), Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
2. Bộ Quốc phòng, “Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2026) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, 2.
4. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2025) Văn kiện Đại hội lần thư I Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, nhiệm kỳ 2025 - 2030
5. Quốc hội (2025), Luật số 72/2025/QH15, Luật Tổ chức chính quyền địa phương.