Trong dòng chảy lịch sử nghìn năm văn hiến, dân tộc Việt Nam không chỉ sản sinh ra những vĩ nhân làm rạng danh đất nước bằng gươm thiêng, ngựa sắt, mà còn có những bậc anh hào dùng ngòi bút và trí tuệ góp phần tạc nên cốt cách và linh hồn của quốc gia, dân tộc. Danh nhân Lê Quý Đôn (1726 - 1784) là một con người như thế, ông chính là biểu tượng rực rỡ nhất cho sức mạnh của tri thức. Ông được tôn vinh là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến. Sống trong một thế kỷ XVIII đầy biến động và rạn nứt của chế độ phong kiến, khi sự phân rã quyền lực trong mô hình “Vua Lê - Chúa Trịnh” ở Đàng Ngoài và Đàng Trong tạo nên cục diện chính trị phức tạp, khi mà tư tưởng tưởng Nho giáo nhiều đời đã trở thành xương sống của nền văn hóa của xã hội phong kiến bỗng rơi vào khủng hoảng, lộ rõ sự xơ cứng, chỉ chú trọng vào thi cử danh lợi, Lê Quý Đôn hiện lên như một ngọn hải đăng sừng sững, dùng ánh sáng tri thức để soi rọi mọi ngõ ngách của đời sống - từ những quy luật vận hành của vũ trụ, địa giới cương vực, đến những chi tiết nhỏ nhất trong phong tục, tập quán của người dân lao động. Di sản tư tưởng và nhân cách danh nhân Lê Quý Đôn nhắc nhở thế hệ mai sau rằng: Một dân tộc chỉ có thể hưng thịnh và trường tồn khi nền tảng tri thức được coi trọng và những người thầy được đặt lên vị trí cao quý nhất.
Danh nhân Lê Quý Đôn sinh năm 1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Hưng Yên - vùng đất địa linh nhân kiệt với truyền thống khoa bảng lâu đời. Thừa hưởng gen thông tuệ từ người cha là Tiến sĩ Lê Phú Tứ, một học sĩ cương trực, có ảnh hưởng quyết định đến phương pháp học tập của ông. Từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng với tư chất thông minh lỗi lạc, được mệnh danh là thần đồng, Lê Quý Đôn đỗ Giải nguyên năm 17 tuổi, đỗ Hội nguyên và Bảng nhãn năm 27 tuổi. Khoa thi năm đó không có danh hiệu Trạng nguyên nhưng thực tế uy tín và học thuật của ông đã vượt xa mọi học hàm. Di sản lớn nhất ông để lại không nằm ở thiên tư sẵn có, mà ở một khối lượng tác phẩm đồ sộ thuộc đủ mọi lĩnh vực: từ triết học, lịch sử, địa lý đến kinh tế, nông học và văn chương. Những bộ sách như “Vân đài loại ngữ”, “Kiến văn tiểu lục” hay “Phủ biên tạp lục” không chỉ là kho tàng tri thức của thế kỷ XVIII mà còn là minh chứng cho một phương pháp làm khoa học, tỉ mỉ. Phan Huy Chú - nhà bác học thế kỷ XIX trong bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” đã dành những lời đầy trân trọng để nói về Lê Quý Đôn: Ông có tư chất thông minh khác thường, sức học rộng khắp, ghi nhớ tốt... Phàm những sách kinh truyện, bách gia chư tử, không sách nào không đọc qua tay. Tay không rời sách, miệng không ngừng đọc. Những tác phẩm của ông để lại, người đời sau đều coi là khuôn mẫu. Tư tưởng của ông đề cao giá trị “thực học”. Giữa bối cảnh giáo dục thời đại bấy giờ vốn nặng về kinh viện, tầm chương trích cú, Lê Quý Đôn đã khẳng định: “Đọc sách không cần nhiều, quan trọng là hiểu cho thấu đáo”. Ông chủ trương học đi đôi với hành, kiến thức phải được kiểm chứng qua thực tiễn đời sống và khảo cứu thực địa. Chính tinh thần này đã khiến những trang viết của ông luôn tràn đầy hơi thở cuộc sống. Theo quan điểm của ông, học vấn phải có ích cho việc trị quốc, an dân. Ông phê phán gay gắt những kẻ miệng đọc sách thánh hiền nhưng tay không biết cầm cày, đầu không biết lo việc nước, hay ông cũng chỉ ra tác hại của việc học chỉ để ứng thí lấy danh lợi, đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái của tầng lớp trí thức. Lê Quý Đôn cũng là trí thức Nho giáo sớm nhận thức được rằng người học không được đóng khung trong tứ thư ngũ kinh mà phải mở rộng tầm mắt tìm tòi nhiều lĩnh vực khác, đây là mầm mống của tư tưởng giáo dục khai phóng.
Di sản bác học của ông được coi là “Túi khôn của thời đại”, trong “Vân đài loại ngữ”, một tác phẩm được đánh giá là cuốn bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam thể hiện tầm vóc của một nhà khoa học thực thụ khi đã để lại những kiến thức quý báu ở 3 nội dung chính: (1) Vũ trụ luận (lý khí), ở đây ông giải thích về sự hình thành của trời đất, các hiện tượng tự nhiên dựa trên quan điểm duy vật thô sơ nhưng tiến bộ; (2) Văn hóa dân gian và ngôn ngữ, ghi chép về cách ăn mặc, phong tục, tập quán và các biến đổi ngôn ngữ; (3)Lê Quý Đôn là người trực tiếp cầm quân, từng kinh qua các chức vụ cai trị ở Thuận Hóa, tham gia vào việc chỉnh đốn tô thuế, khai thác tài nguyên, ông cũng nhiều lần đi sứ sang phương Bắc... nên việc tiếp nhận nguồn kiến thức phong phú từ thực tiễn rất lớn, giúp ông cập nhật dữ liệu về bản đồ địa lý, thiên văn học. Trong cuốn “Đại Việt thông sử” thay vì lối viết của các bộ sử trước đó thường thiên lối biên niên, ông viết theo lối “kỳ truyện”, tập trung vào các nhân vật và sự kiện một cách chi tiết, có phê phán và chọn lọc tư liệu. Đặc biệt, cuốn “Phủ biên Tạp lục”- một hồ sơ quý giá về Đàng Trong đã mô tả chi tiết về quản lý hành chính, kinh tế, thương mại tại vùng Thuận, Quảng, những ghi chép chính xác về hoạt động trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách này là bằng chứng lịch sử vô giá để chúng ta lấy làm căn cứ bảo vệ chủ quyền biển đảo trong giai đoạn hiện nay. Những điều mắt thấy, tai nghe, tri thức xã hội được ông tập hợp trong cuốn “Kiến văn tiểu lục” được trình bày rất chi tiết, từ chế độ ruộng đất, thuế khóa đến các danh thắng, nhân vật đương thời. Cuốn sách cung cấp cái nhìn chân thực về đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII mà các bộ chính sử thường bỏ qua.
Khi sang sứ Nhà Thanh, ông đã khiến các học giả Trung Quốc như Chu Bội Liên, Lý Điều Nguyên phải nể phục vì kiến thức sâu rộng của mình. Họ nhận xét ông là người “văn chương sành sỏi, thông thái, không gì không biết”; “Nước Nam có người như thế này, quả là hiếm có”. Ông không chỉ đại diện cho một quốc gia triều cống mà xuất hiện với tư cách một trí thức tầm cỡ, dùng lý lẽ và văn chương uyên bác để bảo vệ quốc thể.
Bên cạnh tầm vóc trí tuệ, Lê Quý Đôn còn được kính trọng bởi nhân cách cương trực, một tấm lòng luôn đau đáu với vận mệnh quốc gia. Sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của thời Lê - Trịnh, nhưng dù ở cương vị nào - từ một sứ giả ngoại giao đến một vị quan cai trị địa phương- ông luôn giữ vững phong thái của một bậc quân tử. Ông là người sớm nhận ra những nguy cơ suy đồi của bộ máy quan liêu. Những lời răn dạy của ông về đạo đức người làm quan, về việc phải gần dân, hiểu dân vẫn còn nguyên giá trị thời đại. Với quan niệm: “Phi nông bất ổn, phi công bất hoạt, phi thương bất phú, phí trí bất hưng”, không chỉ cho thấy tầm nhìn vượt thời đại về kinh tế- xã hội mà còn thể hiện cái tâm của một người thầy, nhiệt huyết của một trí thức không ngừng đóng góp, xây dựng con đường phát triển bền vững cho dân tộc.
Lê Quý Đôn từng trực tiếp giảng dạy hay đào tạo nên nhiều thế hệ học trò, tư tưởng của ông là một cuốn giáo trình mở cho tất cả những ai khao khát tri thức. Trong lĩnh vực giáo dục, ông đặt nền móng cho tinh thần phản biện và tư duy độc lập. Trong văn hóa, ông là người có công lớn trong việc hệ thống hóa tri thức dân tộc, bảo tồn những giá trị di sản văn hóa Việt Nam trước những biến động của thời gian. Về đạo đức, khuôn mẫu nhân cách được Lê Quý Đôn xây dựng có thể đúc rút ra được 3 điểm chính, trước hết là thân giáo (dạy bằng tấm gương), người thầy phải giữ mình được thanh liêm, chính trực thì lời nói mới có trọng lượng. Ông cực lực bài trừ thói kiêu căng, ngạo mạn; thứ hai là trọng nhân tài, ông luôn dành sự ưu ái và nâng đỡ cho những học trò nghèo có chí hướng. Cách ông tiến cử người tài cho triều đình đã cho thấy cái tâm của một người thầy với vận mệnh quốc gia; thứ ba, ông là tấm gương mẫu mực về sự khiêm cung của một bậc đại trí. Dù hiểu biết “thiên kinh vạn quyển”, ông vẫn không ngừng đi, không ngừng quan sát và ghi chép, bởi ông hiểu rằng đại dương tri thức là vô tận. Tiếp nối những tri thức quý báu của Lê Quý Đôn, có thể kể tên rất nhiều học trò xuất sắc, tuy nhiên người ta hay nhắc nhiều tới danh sĩ Bùi Huy Bích - một đại quan của triều Lê - Trịnh, ông đỗ Hoàng giáp năm 1769, là người kế tục xứng đáng tư tưởng thực học và thực chứng của Lê Quý Đôn, với lòng tôn kính thầy trong nhiều nghiên cứu của mình ông đã làm sâu sắc những tư tưởng của Lê Quý Đôn về giáo dục và văn hóa. Dù không có một câu trích dẫn cụ thể duy nhất, nhưng tinh thần xuyên suốt trong các tác phẩm của Bùi Huy Bích khi nói về thầy của mình đều chứa đựng sự nể trọng, ông coi những gì thầy để lại là “Khuôn vàng thước ngọc”: Học thuật của tiên sinh (Lê Quý Đôn) rộng lớn như bể, tôi chỉ như người múc một gáo nước từ trong đó để tưới tắm cho đời sau. Đây thực sự là cách diễn đạt đầy hàm súc thể hiện sự trân trọng, tôn vinh tầm vóc của nhà bác học Lê Quý Đôn và những đóng góp của ông cho hậu thế.
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Lê Quý Đôn, sau 300 năm kể từ ngày lịch sử gọi tên ông, ta không chỉ thấy chân dung của một nhà bác học với kiến thức “thiên hạ vô song”, mà còn thấy hiện thân của một nhân cách lớn - người đã dành trọn cuộc đời để phụng sự cho nền văn hiến nước nhà. Ông không chỉ là người tổng kết quá khứ mà còn là người mở đường, đặt nền móng cho tinh thần thực học và tư duy khách quan, khoa học trong giáo dục Việt Nam, điều này đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hóa chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra”1. Di sản tư tưởng của Lê Quý Đôn về một nền “thực học để phụng sự” chính là nền tảng vững chắc để Đảng ta hiện thực hóa mục tiêu đưa giáo dục trở thành động lực then chốt, quyết định tương lai dân tộc, đưa đất nước vững vàng bước vào Kỷ nguyên vươn mình.
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, HN, tr 101- t1.