Trong hành trình đi tìm đường cứu nước của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến những thành tựu văn minh của nhân loại, những tiến bộ mọi mặt mà loài người đã đạt được, trong đó có những thành tựu về hợp tác xã. Tư tưởng về hợp tác xã được Người đề cập một cách có hệ thống, từ những ý tưởng mang tính chất lý luận đến những bài nói, bài viết sau này và cả trước lúc Người qua đời. Tất cả đều chứa đựng một tư tưởng nhất quán về vai trò của hợp tác xã đối với đồng bào ta, nhất là đồng bào vùng nông thôn, nông nghiệp.
Thống kê trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có hơn 154 tác phẩm Bác đề cập đến hợp tác xã, khoảng trên 500 lần Bác dùng cụm từ “hợp tác xã”. Tư tưởng về hợp tác xã đã được đề cập rất sớm trong những tác phẩm ban đầu của Người. Trong Báo cáo gửi Ban biên tập về hoạt động của báo Le Paria, Bác đã trực tiếp sử dụng hình thức hợp tác xã trong hoạt động của tờ báo. Trong tác phẩm Đường cách mệnh (viết năm 1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết thực tiễn phát triển hợp tác xã của các nước trên thế giới, từ hợp tác xã đầu tiên ra đời năm 1761 tại Anh, do những người thợ dệt vải rủ nhau lập ra một hội “làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong làng xóm”, đến các hình thức hợp tác xã ở Nga, Pháp, Đan Mạch, Đức… cho đến những ý tưởng về xây dựng hợp tác xã trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “hợp tác xã là “góp gạo thổi cơm chung” cho khỏi hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ” [1]. Các hình thức hợp tác xã rất đa dạng, từ thấp đến cao, từ nhỏ, đơn giản đến những hình thức lớn hơn, đến những loại hình hợp tác xã cụ thể như hợp tác xã tiền bạc; hợp tác xã mua; hợp tác xã bán… Tác dụng to lớn của hợp tác xã cũng được thể hiện trên nhiều mặt, từ góp sức để thành mạnh, đến thực hành dân chủ.
Tư tưởng phát triển hợp tác xã luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt, gắn liền với tư tưởng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ngay từ những ngày đầu cách mạng, tư tưởng của Người về chế độ hợp tác xã, đưa nông dân từ chỗ làm ăn riêng lẻ đi dần lên tổ đổi công và tiến lên hợp tác xã từ bậc thấp đến bậc cao đã được coi là con đường đi đến ấm no, hạnh phúc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Không có con đường nào khác, chỉ có vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã, nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất” [2]. Theo Hồ Chí Minh, trong quá trình xây dựng phong trào hợp tác hóa, cần tránh tư tưởng nóng vội, chủ quan duy ý chí, chú trọng đến chất lượng, không nên chạy theo số lượng. Phong trào hợp tác hóa phải đi từ thấp đến cao mới phát triển thuận lợi. Muốn tổ chức hợp tác xã được tốt, phải phát triển và củng cố các tổ đổi công. Con đường hợp tác hóa là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nên mọi đảng viên phải tham gia, xây dựng. Người viết: “Chi bộ tốt thì ban quản trị mới tốt. Ban quản trị tốt thì xã viên mới đoàn kết và hăng hái sản xuất, hợp tác xã mới củng cố và phát triển tốt” [3].
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác xã vào thực tiễn Việt Nam, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của kinh tế tập thể, mà nòng cốt là các hợp tác xã. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (gọi tắt là Khoán 10) trong đó Đảng ta đã xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, nhận khoán với hợp tác xã. Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân, hoạt động theo nguyên tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất - kinh doanh, có tư cách pháp nhân, bình đẳng trước pháp luật.
Đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: Kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề của sản xuất, kinh doanh và đời sống. Năm 1996, Luật Hợp tác xã ra đời (Luật số 47-L/CTN), được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20-3-1996 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1997, đánh dấu sự chuyển đổi mô hình hợp tác xã cũ sang kiểu mới theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và tự chủ. Nguyên tắc này phần nào tạo ra động lực về kinh tế cho các thành viên hợp tác xã. Bảy năm sau, Luật Hợp tác xã năm 2003 được ban hành thay thế cho Luật Hợp tác xã năm 1996 đã mở đường về mặt pháp chế và thể chế, có tính pháp lý cao hơn, sâu rộng hơn, tạo điều kiện cho phong trào hợp tác xã phục hồi và phát triển, cho sự ra đời và hình thành các hợp tác xã kiểu mới.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hợp tác xã năm 2012 (thay thế cho Luật Hợp tác xã năm 2003) với nhiều điểm mới như: thể hiện rõ hơn bản chất, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã; thay đổi đối với tổ chức, quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; quy định rõ hơn phạm vi ưu đãi, hỗ trợ đối với hợp tác xã… Các chính sách này góp phần khơi thông điểm nghẽn, đặc biệt điểm nghẽn về vấn đề đất đai, tiếp cận tín dụng cho phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. Ngày 1-7-2024, Luật Hợp tác xã năm 2023 chính thức có hiệu lực (thay thế cho Luật Hợp tác xã năm 2012) đã quy định cụ thể hơn về tổ chức, phạm vi hoạt động, tổ chức lại đơn vị… của các hợp tác xã, tạo căn cứ pháp lý để các hợp tác xã hoạt động hiệu quả hơn. Gần đây nhất, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6-1-2026 về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết đã tạo những cơ chế thuận lợi để kinh tế tập thể (bao gồm các hợp tác xã) phát triển bền vững, khuyến khích các hợp tác xã hoạt động hiệu quả, nhận được sự hỗ trợ về vốn, chính sách từ nguồn lực nhà nước, gắn kết chặt chẽ kinh tế tập thể với kinh tế nhà nước trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã được triển khai đã tác động rất lớn, thúc đẩy thành phần kinh tế này phát triển. Theo Bộ Tài chính, thống kê sơ bộ đến hết năm 2025, cả nước có 35.041 hợp tác xã đạt mục tiêu kế hoạch đề ra; tổng số thành viên hợp tác xã đạt gần 6 triệu người. Số lượng liên hiệp hợp tác xã đạt 164 liên hiệp hợp tác xã với hơn 1 triệu hợp tác xã thành viên. Chất lượng hoạt động của hợp tác xã được cải thiện với 78,1% số hợp tác xã hoạt động đạt loại khá, tốt, vượt mục tiêu kế hoạch. Doanh thu bình quân của một hợp tác xã đạt khoảng 4,56 tỷ đồng/năm, lãi bình quân đạt 421 triệu đồng/hợp tác xã/năm, tăng 34% so với năm 2020. Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong hợp tác xã đạt khoảng 64 triệu đồng/người/năm, tăng gần 25% so với năm 2020. Trong cả nước, đã xuất hiện nhiều hợp tác xã hoạt động hiệu quả, được các ngành, các cấp lựa chọn, hỗ trợ trở thành mô hình điểm để nhân rộng; Các mô hình hợp tác xã liên kết với tổ chức kinh tế khác như doanh nghiệp, hộ gia đình tạo thành các chuỗi giá trị; Nhiều hợp tác xã đã tổ chức áp dụng khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến, tổ chức sản xuất hình thành các vùng nguyên liệu chất lượng, có tiêu chuẩn đáp ứng các yêu cầu của thị trường; Nhiều hợp tác xã đã chủ động thực hiện điều chỉnh phương thức hoạt động quản lý, sản xuất - kinh doanh, chuyển đổi số mạnh mẽ để tồn tại và phát triển…
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy vai trò của các hợp tác xã vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định như: Nhận thức về kinh tế tập thể, về vai trò của các hợp tác xã của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân có nơi, có thời điểm chưa thống nhất, chưa đầy đủ, còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi định kiến về mô hình hợp tác xã thời kỳ bao cấp; Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn yếu và chưa theo kịp xu thế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Năng lực tài chính, cơ sở hạ tầng của các hợp tác xã, tổ hợp tác còn hạn chế nên khó mở rộng sản xuất, kinh doanh cũng như tham gia liên doanh, liên kết với nhau và với các tổ chức kinh tế khác...
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, chúng ta có nhiều thời cơ, thuận lợi để phát triển kinh tế, nhưng cũng không ít nguy cơ, thách thức đan xen. Để tiếp tục phát huy những lợi thế của thành phần kinh tế tập thể, của các hợp tác xã, đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế của thành phần kinh tế này cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tập thể, mà nòng cốt là các hợp tác xã. Từ đó, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Nhà nước.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển thuận lợi cho khu vực kinh tế tập thể theo hướng tiếp cận các nguyên tắc thị trường, bảo đảm công bằng, bình đẳng, dân chủ giữa các hợp tác xã và tạo cơ hội, động lực cho hợp tác xã tự lực vươn lên.
Ba là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể tập trung, thống nhất, xuyên suốt trong chỉ đạo, điều hành từ Trung ương đến địa phương. Các bộ, ngành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phối hợp, hỗ trợ các địa phương xây dựng, phát triển hợp tác xã trên tinh thần đoàn kết, đồng lòng và vì mục tiêu chung của các thành viên và của hợp tác xã.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, nâng cao vai trò nòng cốt của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam các cấp, nhất là trong việc tuyên truyền, phản biện chính sách, làm cầu nối triển khai và tăng khả năng tiếp cận chính sách, tư vấn, hỗ trợ hợp tác xã.
Năm là, phát huy tính tự lực, tự chủ của các hợp tác xã, hỗ trợ phát triển các mô hình hợp tác xã hoạt động có hiệu quả, trở thành kiểu mẫu để nhân rộng.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước cho thấy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hợp tác xã cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, nó là cơ sở lý luận, phương pháp luận để các hợp tác xã đổi mới mô hình, cách thức hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Trong giai đoạn hiện nay, để các hợp tác xã phát triển tương xứng với tiềm năng, sự đầu tư, quan tâm của Đảng và Nhà nước đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến thành phần kinh tế tập thể, các hợp tác xã. Đồng thời mỗi hợp tác xã phải phát huy tính tích cực, chủ động của mình trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
-------------------------------
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.343
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.262
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.13, tr.164