Đồng chí Nguyễn Văn Linh với việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng

07/04/2026

  • lượt xem: 7

ThS,GVC Nguyễn Thị Huyền Trang - Khoa Nhà nước & Pháp Luật

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh được giao trọng trách là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí đã cùng với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối đổi mới được đề ra sau đại hội. Đồng chí nhấn mạnh: “Phải nhìn thẳng vào sự thật, phải thấy rằng thiếu sót chủ quan của chúng ta là nghiêm trọng và kéo dài. Phải có tinh thần dũng cảm tự phê phán mạnh mẽ và triệt để, để đổi mới. Không như thế, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài với những tai họa thật sự [1]. Theo quan điểm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, đổi mới tư duy lý luận, đổi mới tư duy lý luận của Đảng, thể hiện ở các mặt sau:

          Một là, đổi mới tư duy lý luận của Đảng đồng nghĩa với việc phát triển lý luận trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời nền tảng này, mặc dù đổi mới tư duy lý luận nhưng sẽ chệch hướng. Am hiểu sâu sắc lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ biết vận dụng vào trong đời sống xã hội cũng là một dạng đổi mới tư duy lý luận của Đảng. Theo đồng chí, nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là ở vấn đề giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; dân tộc gắn liền với thời đại. Giữ lấy lề là giữ vững bản chất cao quý, đáng tự hào của Đảng ta, dân tộc ta, chế độ ta, đồng thời phát huy bản chất phong phú hơn, đẹp đẽ hơn khai hoa, kết quả trong những thành tựu mới, đáp ứng yêu cầu của Nhân dân ta hòa nhịp với những thay đổi của thời đại.

          Hai là, lý luận của cách mạng Việt Nam phải phù hợp với mỗi giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tình hình thay đổi, thực tiễn biến động, cho nên tư duy lý luận cũng phải đổi mới thì chính sách mới đổi mới, tư duy có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội. Người ta dựa vào tư duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội, lợi dụng những quy luật đó để phục vụ hoạt động thực tiễn của mình. Ở đây có một vấn đề cần làm sáng tỏ là: nhận thức không phải là một sự phản ánh cứng nhắc như chụp ảnh, mà là một quá trình biện chứng phức tạp, chính sách phải phù hợp với tình hình, khi tình hình thay đổi, nhận thức cũng phải thay đổi theo sao cho phù hợp. Đó là nhận thức đúng đắn nhất.

Ba là, để làm chuyển biến tình hình, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh yêu cầu ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng phải thực sự “đổi mới về tư duy, phong cách, tổ chức và cán bộ” [2]. Đây là ba vấn đề có liên quan mật thiết với nhau, cho nên phải tiến hành đồng thời. Đó cũng là những đòi hỏi bức thiết của đất nước và đặc tính riêng của cách mạng, nhất là cách mạng xã hội chủ nghĩa, là bản chất sâu xa của chủ nghĩa Mác - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là xu thế tất yếu của thời đại, chỉ có đổi mới tư duy lý luận của Đảng mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của sự khiêm tốn, tự phê bình và đánh giá đúng thực lực, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nhiều lần nhắc đến quan điểm của V.I.Lênin là: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho đến nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình” [3].

Với tầm nhìn bao quát, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nhận thấy là muốn đổi mới tư duy lý luận của Đảng trong điều kiện đổi mới thì trước hết phải đổi mới lề lối làm việc và tác phong công tác, vì chỉ có đổi mới lề lối làm việc và tác phong công tác mới có thể tạo tiền đề đổi mới tư duy lý luận của Đảng. Giữa đổi mới tư duy lý luận và đổi mới công tác là hai mặt của một vấn đề đổi mới. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng mà không nghĩ đến đổi mới phương pháp nghiên cứu lý luận, thì cũng sẽ chỉ được một mặt của vấn đề. Vì vậy đổi mới cả hai sẽ mang lại hiệu quả tốt. Đồng chí nói nhiều đến cải tiến cách làm việc sao cho có hiệu quả thiết thưc. Đổi mới tư duy lý luận không có nghĩa là minh họa lý luận, sao chép từ các văn kiện thành cái của mình. Theo đồng chí, phiến diện trong nghiên cứu lý luận sẽ mang đến phiến diện trong chỉ  đạo thực tiễn. Điều đó phản ánh phương pháp nghiên cứu lý luận chưa tốt, cần phải khắc phục.

Sự đổi mới này của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã mang lại một số kết quả như: Ban Chấp hành Trung ương đã có quy chế làm việc và Ban Bí thư đã quy định ra quy chế cho các ban đảng Trung ương. Lề lối làm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có những đổi mới bước đầu như lãnh đạo tập thể hơn, dân chủ hơn, sinh hoạt thường xuyên, đều đặn theo chương trình đã định; quan hệ làm việc giữa Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng được tăng cường, có sự bàn bạc thường xuyên và chế độ hội ý hàng tuần giữa Thường trực Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng. Ban Bí thư đã coi trọng công tác kiểm tra hơn. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh yêu cầu cải tiến lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường vụ Hội đồng bộ trưởng, đảm bảo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, xử lý vụ việc phải kịp thời. Khi ra các quyết định về kinh tế - xã hội, về cơ chế và chính sách phải nghiên cứu kỹ, tính toán chu đáo, sát với thực tiễn, phát huy dân chủ, có cái mới trong đó.

Bốn là, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cho rằng, muốn đổi mới tư duy lý luận của Đảng “Phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều dập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng” [4]. Đồng chí nhận định: “Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta”. [5]. Trong giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội VI của Đảng có những ý kiến trái chiều; một số ý kiến vẫn muốn viết rập khuôn như cũ. Dự thảo văn kiện Đại hội VI đã phải sửa đi sửa lại nhiều lần; thậm chí viết lại. Song, tình hình đã thay đổi và cũng đến lúc nhìn thẳng vào sự thật để mổ xẻ cho ra vấn đề, cuối cùng quan điểm đổi mới đã thắng. Chuyển sang giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ quá độ trong phạm vi cả nước, cần có những bộ óc tỉnh táo để xoay chuyển tình hình. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh kiên quyết giữ vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, có nghĩa là phải lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi. Cái không thay đổi là đường lối chiến lược của Đảng là thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; đối phó với muôn sự thay đổi có nghĩa là tùy theo tình hình cụ thể, sự kiện diễn ra hàng ngày mà có những giải pháp đối phó tích cực.

Năm là, Tổng Bí thư coi chuyển biến toàn bộ sự nghiệp cách mạng theo hướng đổi mới là quá trình lâu dài. Chúng ta phải tiếp tục kiên trì suy nghĩ, tìm tòi, thử nghiệm, từng bước hình thành cái mới một cách tích cực và vững chắc. Vấn đề ở chỗ không do dự cũng không nóng vội; khẩn trương, nhưng không hấp tấp, là cách làm phù hợp với tình hình của Việt Nam. Vì vậy, cần đổi mới tư duy về cách đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội. Việc đánh giá khách quan, đúng thực trạng tình hình là tiền đề cho phép đề ra các phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như các chính sách và biện pháp phù hợp, có căn cứ vững chắc. Khi đánh giá, không được tô hồng, nhưng cũng không được bôi đen. Vấn đề đặt ra khi đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước là phải nhìn thẳng vào sự thật, tìm nguyên nhân và giải pháp để tháo gỡ khó khăn. Đây cũng là đổi mới tư duy về cách đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.

Sáu là, trong đổi mới tư duy lý luận, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh rất chú trọng đến đổi mới tư duy lý luận kinh tế. Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VI, ngày 24/8/1987, đồng chí phân tích sâu sắc nhiệm vụ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đang là yêu cầu bức thiết, xem đó là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong hoạt động của Đảng trên lĩnh vực lãnh dạo kinh tế. Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phải gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị- xã hội. Đồng chí cho rằng: cái thiếu thốn nhất của chúng ta hiện nay không chỉ là cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, các nguồn cân đối cho sản xuất và đời sống, mà còn là cơ chế quản lý kinh tế phù hợp để vận hành toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như từng cơ sở sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Trong nhiệm vụ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, có hai vấn đề cơ bản đặt ra: đổi mới cơ chế quản lý ở cấp đơn vị cơ sở và đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế.

Bảy là, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh rất coi trọng đổi mới tư duy về công tác dân vận. Theo đồng chí, muốn đổi mới công tác vận động Nhân dân trong hoàn cảnh mới, trước hết, hãy xây dựng hệ thống lý luận cho công tác này, việc tạo được phong trào quần chúng hành động cách mạng là yếu tố quyết định thành công trong công cuộc đổi mới. Vấn đề mấu chốt trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng về công tác dân vận là phải phát huy quyền làm chủ của tập thể của Nhân dân lao động, mở rộng dân chủ, biến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành hiện thực, đồng thời, phải chú trọng bồi dưỡng sức dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, nhất là công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang, làm cho toàn dân hăng hái thực hiện công cuộc đổi mới.

Tám là, Tổng Bí thư nói nhiều đến đổi mới công tác, coi đó là một mảng của đổi mới tư duy lý luận. Giữa đổi mới tư duy lý luận và đổi mới công tác là hai mặt của một vấn đề đổi mới. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng mà không nghĩ đến đổi mới phương pháp nghiên cứu lý luận, thì cũng sẽ chỉ được một mặt của vấn đề. Vì vậy đổi mới cả hai sẽ mang lại hiệu quả tốt. Đồng chí nói nhiều đến cải tiến cách làm việc sao cho có hiệu quả thiết thưc. Đổi mới tư duy lý luận không có nghĩa là minh họa lý luận, sao chép từ các văn kiện thành cái của mình. Theo đồng chí, phiến diện trong nghiên cứu lý luận sẽ mang đến phiến diện trong chỉ  đạo thực tiễn. Điều đó phản ánh phương pháp nghiên cứu lý luận chưa tốt, cần phải khắc phục.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở đó lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén, chủ động, khôn khéo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những khó khăn, tiến hành công cuộc đổi mới thu được những kết quả bước đầu rất quan trọng. Qua đó, đã tạo dựng được lòng tin của Nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới, đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng ta vạch ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào năm 1991. Đến nay sự nghiệp Đổi mới mà Đảng và Nhân dân ta tiến hành đến nay đã được 40 năm và đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được bạn bè quốc tế đánh giá cao, tạo ra tiền đề và điều kiện thuận lợi để nước ta tiếp tục phát triển trong thời kỳ mới. Dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng chí Nguyễn Văn Linh, người đã góp phần to lớn trong hoạch định và thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1998, tập 1, tr.30

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2006, tập.47, tr.341

[3] V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M.1978, tập 45, tr.141

 [4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2006, tập 47, tr. 342