Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một chủ trương lớn, xuyên suốt trong đường lối đổi mới của Đảng. Qua các kỳ Đại hội, nhận thức về Nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân”1.
Trong đó, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được đặt ở vị trí trung tâm, thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật; nâng cao chất lượng luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư; bảo đảm pháp luật dễ hiểu, dễ thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Thứ hai, lấy quyền con người, quyền công dân làm trung tâm của hoạt động xây dựng pháp luật. Pháp luật phải hướng tới bảo đảm, tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Thứ ba, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển nhanh và bền vững. Hệ thống pháp luật cần tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, đồng thời bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.
Thứ tư, tăng cường kỷ cương, pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp luật phải được thực thi nghiêm minh; mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật; gắn xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả.
Thời gian qua, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế. Các đạo luật cơ bản được ban hành, sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số. Quy trình xây dựng pháp luật ngày càng được chuẩn hóa, chú trọng hơn đến việc lấy ý kiến Nhân dân - đối tượng chịu sự tác động, nâng cao tính dân chủ và minh bạch.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống pháp luật hiện nay vẫn còn không ít hạn chế như: Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện. Chất lượng xây dựng một số văn bản chưa cao, tính khả thi còn hạn chế; tình trạng “luật khung, luật ống” vẫn tồn tại. Công tác đánh giá tác động chính sách chưa thực sự hiệu quả; việc dự báo, hoạch định chính sách pháp luật còn yếu. Đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực chuyên môn, kỹ năng lập pháp hiện đại. Việc tổ chức thi hành pháp luật ở một số lĩnh vực, địa phương chưa nghiêm, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, căn cơ và lâu dài.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn đối với công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ phát triển”. Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là động lực thúc đẩy sáng tạo, khơi thông nguồn lực xã hội.
Hai là, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, ổn định và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật, tạo môi trường pháp lý an toàn, minh bạch cho người dân và doanh nghiệp.
Ba là, gắn xây dựng pháp luật với yêu cầu chuyển đổi số, phát triển chính phủ số, xã hội số, kinh tế số; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động lập pháp và tổ chức thi hành pháp luật.
Bốn là, tăng cường sự tham gia của Nhân dân, doanh nghiệp, giới khoa học trong quá trình xây dựng pháp luật, bảo đảm pháp luật phản ánh sát thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Trên cơ sở yêu cầu của Đại hội, trong thời gian tới, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp và cách thức xây dựng và hoàn thiện pháp luật góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cần triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật sang hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ” từ “can thiệp hành chính” sang “điều tiết bằng pháp luật”. Tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm cụ thể hoá các quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt là nội dung mới trong Nghị quyết Đại hội XIV về phát triển nhanh và bền vững, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tri thức và đảm bảo công bằng. Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, loại bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, đơn giản hoá thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, chính quyền địa phương hai cấp, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội theo hướng dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ thực hiện.
Thứ hai, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo hướng khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại. Nâng cao chất lượng công tác lập đề nghị xây dựng luật, coi đây là bước quyết định để đảm bảo tính đúng đắn, khả thi của văn bản pháp luật. Chú trọng đánh giá tác động chính sách, bảo đảm mỗi đạo luật khi ban hành đều có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc. Tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu tác động và Nhân dân; mở rộng các hình thức lấy ý kiến trực tuyến, công khai minh bạch quá trình xây dựng pháp luật, coi đây là nguồn thông tin quan trọng nhằm nâng cao chất lượng lập pháp. Quy định rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo. Quy trình xây dựng pháp luật cần chuyển mạnh từ “đóng” sang “mở”, từ “hành chính hoá” sang “xã hội hoá”, đảm bảo dân chủ, minh bạch và đồng thuận xã hội cao.
Thứ ba, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật giữ vai trò then chốt trong bảo đảm chất lượng văn bản pháp luật. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu, có tư duy đổi mới, năng lực phân tích chính sách và kỹ năng lập pháp hiện đại. Tập trung bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng lập pháp cho đại biểu Quốc hội, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lập pháp về kỹ thuật lập pháp, đánh giá tác động chính sách, kỹ năng tham vấn, phân tích dữ liệu pháp luật, ứng dụng công nghệ số. Tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi, tham vấn giữa đại biểu Quốc hội và cơ quan soạn thảo, cán bộ chuyên môn ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách để đại biểu Quốc hội có thông tin phong phú, chính xác cho quá trình thảo luận và quyết định các vấn đề lập pháp. Đồng thời, có cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học, luật gia giỏi tham gia sâu vào quá trình xây dựng pháp luật.
Thứ tư, gắn xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả. Hoàn thiện cơ chế tổ chức thi hành pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện pháp luật; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật trong cán bộ, công chức và Nhân dân. Tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật làm cơ sở sửa đổi, bổ sung chính sách, tạo ra chu trình khép kín, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong xây dựng và thi hành pháp luật. Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành và phổ biến pháp luật; phát triển các nền tảng số, xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, liên thông, dễ tra cứu, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận pháp luật.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao về chất lượng tăng trưởng, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số toàn diện, công tác xây dựng pháp luật càng cần được đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ. Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, bảo đảm pháp luật thực sự trở thành công cụ quản lý xã hội hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, tr.126, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.