V.I.Lênin và khát vọng hòa bình

22/04/2026

  • lượt xem: 4

ThS. Nguyễn Thị Hồng Thuận - Phó trưởng khoa Lý luận cơ sở

(Kỷ niệm 156 năm ngày sinh của Vơlađimia Ilich Lênin (22/4/1870 - 22/4/2026) và 51 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026))

Trong thập niên 20 của thế kỷ XXI, nhân loại đã và đang chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị, làm thay đổi đáng kể an ninh toàn cầu. Điển hình như xung đột giữa Nga và Ucraine, Israel - Palestine/Gaza, Myanmar,   khu vực Sahel (Châu Phi), căng thẳng Trung Đông, Thái Lan và Campuchia, cạnh tranh vị trí siêu cường về kinh tế giữa các nước lớn như Mỹ - Trung Quốc.vv.. Tình hình này cho thấy thế giới đang bước vào một giai đoạn bất ổn, khi ranh giới giữa chiến tranh và hòa bình trở nên mong manh, đặt ra những thách thức lớn đối với an ninh và sự phát triển nhân loại. Khi chiến tranh xảy ra, đối tượng bị mất mát, tổn thương nhiều nhất vẫn là dân thường, đặc biệt là trẻ em vô tội. Những hình ảnh tang thương từ chiến sự luôn là nỗi ám ảnh mỗi chúng ta, hình thành những lo lắng, sợ hãi mơ hồ về nguy cơ chiến tranh sẽ xảy ra ở bất cứ khi nào, nơi đâu. Vì thế, hòa bình không chỉ là mong muốn, nhu cầu mà đó còn là lẽ sống, là nỗi khát khao của biết bao con người đang mưu cầu tự do, hạnh phúc trên trái đất này.

Nhân kỷ niệm 156 năm ngày sinh của Vơlađimia Ilich Lênin (22/4/1870 - 22/4/2026), chúng ta tưởng nhớ đến Lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga, người cộng sản lỗi lạc, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản và Nhân dân lao động thế giới. Đấu tranh cho hòa bình, tự do, dân chủ theo quan điểm của V.I.Lênin đã động viên, cổ vũ dân tộc thuộc địa và phụ thuộc mạnh mẽ đứng lên chống thực dân, đế quốc giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa không còn người áp bức bóc lột người. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của Việt Nam kéo dài 30 năm giành thắng lợi cũng là nhờ đã kiên định mục tiêu lý tưởng đó. Sau 51 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), vị thế, cơ đồ và tiềm lực của đất nước ngày càng được nâng cao, môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững. Có được thành quả đó là do Đảng ta đã luôn vận dụng trung thành và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định.

Lãnh tụ V.I.Lênin sinh ngày 22/4/1870 tại thành phố nhỏ Simbirsk, cạnh bờ sông Volga, phía Tây nước Nga trong một gia đình trí thức tiến bộ. Lênin đã cống hiến trọn đời mình học tập, nghiên cứu, chiến đấu không ngừng nghỉ cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nước Nga cùng các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới. Giống như C.Mác, Ph.Ănghen, tư tưởng, quan điểm của Người là vũ khí sắc bén đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và toàn nhân loại khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Với chủ trương đề cao “quyền dân tộc tự quyết”, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin đã thay mặt Đảng Bolshevik thông qua “Sắc lệnh hòa bình”. Đây là một trong những quyết sách chính trị quan trọng của Lênin thể hiện tư tưởng ủng hộ, bảo vệ, gìn giữ hòa bình, kiên quyết phản đối chiến tranh xâm lược. Sắc lệnh chỉ rõ “chiến tranh là tội ác của nhân loại”, đồng thời nhấn mạnh, đề cao ý nghĩa, giá trị của hòa bình, kêu gọi các bên tham gia Chiến tranh thế giới thứ I đình chiến, đàm phán hòa bình, không thôn tính, không cưỡng bức dân tộc khác. Người lên án:“Chúng ta đấu tranh chống sự dối trá của các chính phủ, trên lời nói thì tất cả đều nói về hòa bình, về công lý, nhưng trong việc làm lại tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược và cướp bóc...” (1). Lênin khẳng định: Nhà nước xã hội chủ nghĩa không có mục đích gây chiến, mà thông qua đối thoại, ngoại giao, tôn trọng bình đẳng, tập trung xây dựng đất nước và bảo vệ hòa bình thế giới. Người bày tỏ sự tin tưởng vào sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân cũng như vai trò của quần chúng trong việc bảo vệ thành quả cách mạng: “Phong trào công nhân sẽ giành được phần thắng và sẽ vạch ra con đường đi tới hòa bình và chủ nghĩa xã hội” (2).

Lênin kịch liệt lên án chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc gây ra chiến tranh và tội ác nên phải bằng mọi cách loại bỏ sự can thiệp thô bạo của chúng để gìn giữ hòa bình. Trong một tình huống khác, để gìn giữ, bảo vệ hòa bình, chính quyền non trẻ cùng lợi ích của Nhân dân, Lênin đã phải đưa ra một quyết định “cân não”: ký Hòa ước Brest-Litovsk . Đây là một hiệp ước hòa bình được ký kết ngày 03/3/1918 giữa Nga Xô-viết với Liên minh đế quốc Đức, Áo-Hung, Bungari, Ốt-man, trong đó chấp nhận hy sinh một số lợi quyền của Nga (như chấp nhận nhượng một phần lớn lãnh thổ, dân số và công nghiệp cho Đức) để đổi lấy hòa bình. Lênin từng gọi đây là một “quyết định đau đớn”, “đáng xấu hổ” nhưng bắt buộc phải làm, là “bước lùi” để tạo “bước tiến” trong những thời khắc lịch sử khốc liệt. Mặc dù vấp phải nhiều ý kiến trái chiều, thậm chí phê phán, chỉ trích, nhưng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, không thể phủ nhận đây là bước đi chiến lược mang tính sống còn. Nó giúp cho nước Nga rút khỏi Thế chiến I, giúp chính quyền Xô-viết non trẻ có thời gian củng cố, xây dựng quân đội và bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Mười. Tất cả những việc Lênin làm còn chứng minh việc gìn giữ hòa bình cần hết sức linh hoạt, không đơn thuần là chỉ dùng bạo lực cách mạng. Qua đây còn khẳng định quan điểm nhân văn sâu sắc của Người về việc cần thiết phải ngăn chặn chiến tranh để bảo vệ cuộc sống bình yên cho Nhân dân.

V.I.Lênin đã đi xa hơn 1 thế kỷ nhưng những khao khát hòa bình vốn hiện hữu trong tư tưởng lý luận và hành động thực tiễn của Người đã trở thành ngọn lửa sáng soi con đường đi đến hòa bình, hạnh phúc của nhân loại. Mặc dù vậy, những phe phái đối lập và những kẻ hiếu chiến, bất đồng chính kiến, các thế lực phản động, thù địch lại có tư tưởng, xuyên tạc, công kích, xét lại, phê phán kịch liệt tư tưởng của Người, nhất là kể từ sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu sụp đổ. Thậm chí có những kẻ còn đòi đưa thi hài Lênin ra khỏi Lăng tại Quảng trường Đỏ, lớn tiếng chỉ trích Lênin và những quyết sách chính trị thời Xô-viết đã ảnh hưởng tới quyền dân tộc tự quyết của họ. Hậu quả là có tới hàng trăm tượng đài, biểu tượng Lênin bị đập phá, gỡ bỏ. Người lãnh đạo nước Nga mới V.Putin đã chỉ trích việc kéo đổ tượng đài Lênin là “hành động vô ơn đối với lịch sử, phá hoại những di sản thời Xô-viết”, đặc biệt là khi liên quan đến các biểu tượng hữu nghị, hòa bình. Mặc dù vậy, tượng đài Lênin vẫn sừng sững, hiên ngang và các biểu tượng cùng tư tưởng lý luận của Người luôn hiện hữu không chỉ ở nước Nga mà còn ở nhiều quôc gia trên thế giới, trong đo có Việt Nam. Đây là minh chứng hùng hồn cho chính nghĩa đã thắng phi nghĩa và những giá trị của tiến bộ xã hội vẫn mãi bền vững với thời gian, thách thức kẻ thù mọi loại.

Nhân dân Việt Nam vốn yêu hòa bình, ghét chiến tranh nên đã chiến đấu để giành giữ độc lập hòa bình trong suốt hàng ngàn năm Bắc thuộc và hàng trăm năm bị thực dân, đế quốc xâm lược, đô hộ. Thấu cảm nỗi khát khao hòa bình, độc lập đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, con đường cách mạng Việt Nam được Hồ Chí Minh xác định chắc chắn là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” chính là chân lý vĩnh hằng, khẩu hiệu hành động, mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người Việt Nam. Để có hòa bình, độc lập, các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng và ngã xuống trên khắp các chiến trường. Máu các anh hùng liệt sĩ đã đổ để ngày nay đất nước có hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đại thắng mùa xuân năm 1975 là mốc son chói lọi, kết thúc 30 năm chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng 30/4/1975 còn đập tan chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, làm suy yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc bạo tàn.

Trong hành trình “viết tiếp câu chuyện hòa bình” hôm nay, chúng ta tiếp tục học Lênin với tinh thần “Học-học nữa-học mãi”, nhất là bài học về gìn giữ hòa bình mà Người đã trao truyền cho những học trò ưu tú cùng nhân loại tiến bộ, tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, quan điểm về giá trị của hòa bình tới tất cả các ngành, các cấp, cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Quan tâm đặc biệt đến thế hệ trẻ vì họ được sinh sống trong hòa bình, không hình dung được những mất mát hy sinh. Do đó, những tư liệu lịch sử, các tác phẩm nghệ thuật và những bài học lịch sử của thầy cô giáo trong nhà trường sẽ giúp các em hiểu biết, nắm vững và trân trọng hơn những gì đã và đang có. Từ đó mọi người sẽ cùng chung tay góp sức giữ gìn, phát huy, lan tỏa tinh thần yêu nước, đấu tranh bảo vệ hòa bình, nhất là trên không gian mạng.

Hai là, xây dựng hệ giá trị quốc gia, trong đó “hòa bình” là nhân tố đầu tiên được nhấn mạnh. Ở nước ta hiện nay, “hệ giá trị quốc gia Việt Nam” cần được xây dựng bao gồm 8 thành tố: Hòa bình, Thống nhất, Độc lập, Dân giàu, Nước mạnh, Dân chủ, Công bằng, Văn minh. Thực tiễn chứng minh, hòa bình là giá trị phổ quát và rất thiêng liêng, đáng trân trọng. Ở đâu có hòa bình, ở đó có phát triển phồn vinh và hạnh phúc. “Theo báo cáo mới nhất của Chỉ số Hòa bình Toàn cầu (GPI) 2025 do Viện Kinh tế và Hòa bình (IEP) công bố, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 38 toàn cầu, chính thức góp mặt trong top 10 quốc gia hòa bình nhất châu Á” (3). Đó là lý do vì sao Việt Nam luôn được được bạn bè quốc tế ghi nhận, quý mến, chọn làm “điểm đến” cho các tuor du lịch hay ký kết các dự án hợp tác, đầu tư.

Ba là, tăng cường củng cố, mở rộng mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị với các nước trên thế giới. Đảng ta khẳng định:“Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam”(4). Đến tháng 9/2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia; xây dựng mạng lưới đối tác chiến lược với 38 nước, trong đó có 12 đối tác chiến lược toàn diện, bao gồm các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan hệ với hơn 250 đảng ở gần 100 quốc gia trên thế giới; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được tăng lên (5).

Bốn là, làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Đúng như lời bài hát “cha ông ta ngày xưa ngã xuống, để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình”, trong kháng chiến chống Pháp có 191.000 liệt sĩ, trong kháng chiến chống Mỹ có 849.000 liệt sĩ và hơn 105.000 liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh biên giới, biển đảo. Hòa bình rất thiêng liêng “vì hòa bình ấy đã lấy đi máu xương bao người”. Các thế hệ hôm nay luôn ghi nhớ, tri ân sâu sắc sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sĩ và các gia đình có công với cách mạng, đồng thời thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ”(6).

Năm là, tăng cường công tác quốc phòng an ninh để bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia. Đảng ta đã xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Do vậy phải tập trung chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với kinh tế, ứng dụng công nghệ cao và xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh. Mục tiêu là giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đều phải là một mắt xích quan trọng trong sự nghiệp này, không thể “khoán trắng” cho lực lượng vũ trang. Có như vậy mới đảm bảo giữ vững an ninh, an toàn, ổn định cho đời sống và sản xuất của Nhân dân. Đúng như Đảng ta đã nêu trong Văn kiện Đại hội XIV: “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, phát triển, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; không để đất nước xảy ra chiến tranh, xung đột, bất ổn là mục tiêu cao nhất, lợi ích cao nhất của đất nước” (7).

Sáu là, quan tâm thường xuyên đến công tác dự báo, dự đoán bối cảnh, diễn biến tình hình  trong và ngoài nước; nhận diện những âm mưu và hành động chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Từ đó tiếp tục “phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực”, “tranh thủ, tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ”, “biến nguy thành cơ”, nâng cao cảnh giác... để xây dựng, phát triển bền vững đất nước trên tất các lĩnh vực, tham gia ngày càng sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu và hội nhập quốc tế thành công. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhất là về khoa học công nghệ và chuyển đổi số để thực hiện thành công những đổi mới sáng tạo như chủ trương của Đảng ta đã đề ra theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIV vừa qua.

Những ngày tháng Tư lịch sử nhắc chúng ta nhớ về V.I.Lênin với khát vọng hòa bình cùng giá trị thực tiễn vô cùng sâu sắc và nhân văn của tư tưởng này. Từ đó xác định những hành động cụ thể để tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị hòa bình - thành quả cách mạng mùa xuân 1975 vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước hôm nay. Đây là nền tảng cốt lõi, đồng thời là điều kiện sống còn để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục thực hiện tốt một trong bốn kiên định là“Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (8) ở nước ta trong kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mát-x-cơ-va, 1978, tập 35, tr.18,19

2. V.I.Lênin, Toàn tập, sđd, tập 35, tr. 19

3. Trần Như Hải Ngân: Vì sao Việt Nam lọt vào top 10 quốc gia hòa bình nhất châu Á? Tạp chí Du lịch Việt Nam, https://vntravel.org.vn, 01/09/2025, https://vntravel.org.vn.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQGST, Hà Nội.2021, t.1, tr.117-118.

5. Xem Thông tấn xã Việt Nam – TTXVN: Sự thành công của ngoại giao Việt Nam trong năm 2025, https://happyvietnam.vnanet.vn.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 12, CTQGST, Hà Nội, 2011, t.12, tr.401.

7,8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. CTQGST, Hà Nội.2026, t.2, tr.75; 236.