ThS. Nguyễn Quỳnh Trang - Giảng viên chính khoa Lý luận cơ sở
Chúng ta đang chứng kiến quá trình chuyển giao lịch sử giữ thế giới của kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo (AI) và kinh tế xanh. Nó đồng nghĩa với việc quốc gia nào nắm giữ được nguồn lực con người chất lượng cao, quốc gia đó sẽ làm chủ tương lai. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã xác định rõ: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”1. Đây không chỉ là một kỳ đại hội chuyển tiếp, mà là điểm khởi đầu cho “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” vì vậy mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu “hùng cường” hơn bao giờ hết cần gắn chặt với động lực “xây dựng con người”.
Trong Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đưa ra mục tiêu: “Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”2. Trong đó mục tiêu cụ thể “Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%”3.
Đó không chỉ là những con số, đó là sự khẳng định vị thế Việt Nam, sự tự chủ về kinh tế, công nghệ, sức mạnh con người Việt Nam. Khát vọng này bắt nguồn từ lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước, được thổi bùng lên bởi tư tưởng Hồ Chí Minh và những thành tựu của 40 năm đổi mới.
Có một câu hỏi cần được giải quyết đó là: Tại sao lại là thời điểm này? Một thời điểm lịch sử đòi hỏi chúng ta phải có một cái nhìn thật sự có chiều sâu về hành trình tương lai của dân tộc. Bởi một thực tế cho thấy chúng ta đang ở giai đoạn “dân số vàng” khi mà nhóm người trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) khoảng 53 triệu người, chiếm khoảng 63%- 67,5% tổng dân số cả nước. Với lợi thế này nguồn cung lao động cho thị trường đang ở giai đoạn sung sức nhất, hay nói cách khác chúng ta đang ở đỉnh của giai đoạn dân số vàng. Chúng ta cần phải tận dụng lợi thế này để khẩn trương thực hiện cho được những mục tiêu đã đề ra, tạo ra sự bứt phá cần thiết trong phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” thông qua chính năng suất lao động.
Tuy vậy, rào cản lớn nhất hiện nay lại nằm ở chất lượng nguồn nhân lực: “Chưa tạo lập đồng bộ cơ chế, chính sách, môi trường, xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài”4. Chúng ta phải thừa nhận rằng vẫn còn một khoảng cách rất xa giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế số. Hệ thống giáo dục nặng về lý thuyết, mà chưa đầu tư xứng tầm cho nhiệm vụ thực hành, những kỹ năng mềm như tư duy phản biện, làm việc nhóm,… đặc biệt kỹ năng ngoại ngữ, tin học chuyên sâu còn rất hạn chế. Trong bối cảnh Đại hội XIV nhấn mạnh vào AI, bán dẫn và kinh tế xanh, nhân lực Việt Nam vẫn đang ở phân khúc kỹ năng trung bình và thấp. Sự thiếu hụt chuyên gia đầu ngành và kỹ sư trình độ cao đang là “gót chân Achiles” khiến chúng ta khó tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới. Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và người dân cùng với tình trạng “vô cảm” trước nỗi đau của đồng loại hoặc sự thờ ơ với vận mệnh quốc gia, lối sống thực dụng chạy theo giá trị vật chất thuần túy làm xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Tâm lý “ngại khó, sợ sai”của một bộ phận cán bộ, khi luôn giữ tư tưởng an toàn, không dám đột phá vì sợ trách nhiệm. Chính những điều này triệt tiêu động lực của sự sáng tạo - đây lại là một trong những điểm được coi là linh hồn của Đại hội XIV.
Hệ giá trị con người chưa được định hình rõ nét trong hành động là một trong những rào cản còn tồn tại trong thời kỳ chuyển giao giữa con người xã hội cũ và mới. Có những mâu thuẫn, xung đột nhất định giữa cái cũ và cái mới, giữa nếp sóng cần cù, tiết kiệm với những yêu cầu của thời đại mới, tự lực, sáng tạo, chuyên nghiệp. Tác phong công nghiệp, ý thức thượng tôn pháp luật… vẫn còn nhiều hạn chế.
Khi còn những bất cập trong cơ chế, chính sách đãi ngộ nhân tài, chúng ta phải chứng kiến hiện tượng chảy máu chất xám nghiêm trọng trong thời gian qua, nhiều cá nhân xuất sắc vẫn lựa chọn làm việc tại nước ngoài hoặc các tập đoàn đa quốc gia thay vì cống hiến cho khu vực công, đa phần chọn phục vụ cho những công ty tập đoàn chuyên về lĩnh vực kinh tế tài chính, nhưng lại không mặn mà với các lĩnh vực liên quan tới xã hội và môi trường. Nhìn ở một góc độ nào đó, việc trọng dụng nhân tài đôi khi vẫn chịu chi phối bởi quan hệ, bằng cấp hình thức hơn là năng lực thực tế.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, văn hóa lai căng, độc hại trên không gian mạng đang tấn công trực tiếp vào giới trẻ những người chủ tương lai của đất nước. Nếu không có định hướng từ gia đình từ sớm, sự giáo dục của nhà trường và xã hội thì thế hệ tương lai đó rất dễ rơi vào tình trạng “mất gốc”, sùng bái thái quá văn hóa ngoại lai mà quên đi giá trị cốt lõi của dân tộc.
Vậy để có một Việt Nam hùng cường thì sứ mệnh xây dựng con người Việt Nam phải trở thành trung tâm của chiến lược phát triển trong kỷ nguyên mới:
Thứ nhất, xây dựng con người tri thức, có kỹ năng tư duy sáng tạo. Đây là yếu tố căn cốt để chúng ta làm chủ công nghệ, thành thạo kỹ năng số, có khả năng thích ứng với AI, Big Data và các ngành công nghệ cao như bán dẫn, khoa học vũ trụ, hàng không… Con người lúc này rất cần tư duy dám đổi mới, chuyển từ tâm thế “học để biết” sang “học để sáng tạo”. Phê phán lối học vẹt, học vì bằng cấp. Mục tiêu của người lao động trong thế thế kỷ mới là phải có năng suất lao động cao, có sự kết hợp thật hài hòa giữa thể lực, trí lực và kỹ năng làm việc với cường độ cao. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo là chìa khóa để giải quyết bài toán này. Việt Nam cần có một hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời, có những chính sách cụ thể gắn chặt giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp để đào tạo theo đơn đặt hàng tránh lãng phí nguồn lực.
Thứ hai, xây dựng con người đạo đức, bản lĩnh và hệ giá trị văn hóa. Giải pháp này nhằm hướng tới hoàn thiện con người về mặt tinh thần. Cần phải có một quan điểm giáo dục thống nhất, sự liên kết chặt chẽ giữa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam: “Xây dựng và phát triển con người; chấn hưng đạo đức xã hội, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị con người và văn hóa Việt Nam”5. Như vậy có thể hiểu, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta theo đuổi thống nhất với hun đúc lòng yêu nước, tự hào dân tộc, xây dựng lối sống trách nhiệm với gia đình, xã hội của mỗi công dân; đồng thời nâng cao sức đề kháng trước các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.
Thứ ba, xây dựng con người có khát vọng cống hiến và trách nhiệm xã hội. Điều này thật sự là vấn đề bức thiết trong bối cảnh xã hội hiện nay. Ví dụ xây dựng “văn hóa liêm chính” trong đội ngũ cán bộ đảng viên. Tinh thần “7 dám” cần được lan tỏa và trở thành phương châm hành động của mỗi người: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung. Con người Việt Nam không chỉ nâng cao ý thức trách nhiệm dân tộc mà cần đóng góp vào các vấn đề chung của nhân loại: bảo vệ môi trường, giữ gìn hòa bình thế giới...
Đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: con người là chủ thể, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Lời kêu gọi đó đã mở ra một cánh cửa lớn, nhưng đi qua được cánh của đó hay không lại cần sự nỗ lực của hơn trăm triệu người dân Việt Nam. Chúng ta tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị cao, với ý thức trách nhiệm của những người công dân kỷ nguyên mới, chúng ta sẽ hoàn thành mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu.
---------------------------------------
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Sự thật, Hà Nội, năm 2026, trang Tr 99- Tập 1
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Sự thật, Hà Nội, năm 2026, trang Tr 84- Tập 1
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Sự thật, Hà Nội, năm 2026, trang Tr 85- Tập 1
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Sự thật, Hà Nội, năm 2026, trang Tr 66- Tập 1
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Sự thật, Hà Nội, năm 2026, trang Tr 120- Tập 2.