ThS, GVC. Lê Thị Hương Lan - Khoa Lý luận cơ sở
Lê Quý Đôn là một đại trí thức của Nho giáo Việt Nam, nhưng cuộc đời của ông gần như gắn nhiều với quê hương, với đời sống thường nhật của nhân dân. Trong ông, tư tưởng thân dân được hình thành từ các giáo lý của Nho giáo kết hợp với tình cảm của ông về thân phận con người trong đời sống xã hội đương thời. Sự hơn hẳn của Lê Quý Đôn với các nhà nho cùng thời là ở chỗ ông nhận thấy vai trò của người dân trong xã hội, là sự tôn trọng họ. Vì vậy trong tư tưởng “thân dân” của ông không chỉ là thương dân mà còn là lắng nghe, đề cao dân và tìm mọi cách làm cho cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Đây chính là tiền đề để cho ông, một đại trí thức khi đảm nhận trong trách một đại quan chức, nhận ra là cần phải quan tâm đến con người trong các chính sách cai trị đất nước và trong lối sống của quan trường.
Là người học rộng, đỗ cao, có ngôi thứ cao trong làng Nho Đại Việt, lòng thương dân của Lê Quý Đôn được kết hợp nhuần nhuyễn với triết lý Nho giáo, đặc biệt là thuyết “Thân dân” của Mạnh tử, đã hình thành trong ông một triết lý cơ bản về tư tưởng thân dân mà triết lý đó đã dẫn đường cho ông, là động lực cho ông “dấn thân” suốt cả cuộc đời. Tư tưởng thân dân của Lê Quý Đôn bắt đầu từ lòng thương người dân vất vả, long đong được nâng lên thành triết lý thân dân thể hiện qua cách quan niệm về con người, thông qua hành động nghe dân, gần dân, trọng dân, biết vai trò của người dân trong công tác quản lý xã hội, quản lý đất nước, nên làm gì cho có lợi dân, cho nước.
Tư tưởng nước lấy dân là gốc, là nền tảng của đất nước đã xuyên suốt trong tất cả các tác phẩm của Lê Quý Đôn. Trong tác phẩm Quần thư khảo biện, tư tưởng lấy dân làm gốc của ông chỉ rõ “Gốc của nước vốn ở dân, sinh mệnh của Vua cũng ở dân. Cường thần, nội biến, địch quốc, ngoại hoạn cũng chưa đủ lo âu, nhưng khi lòng dân lung lay, tức là có mối lo ở đó”. Trong Kinh Thư diễn nghĩa, Lê Quý Đôn đã đề cao tư tưởng thương dân, trọng dân, đòi hỏi các vua chúa, quan lại phải nuôi dân, dạy dân, cứu dân, phải chăm chỉ, tiết kiệm, khiêm tốn, lắng nghe nguyện vọng và tiếng nói của dân, phải biết tôn trọng sử dụng nhân tài, không xa hoa lãng phí của cải, vì đó là mồ hôi xương máu của dân… Khi dân đã không sợ chết nữa thì triều đại, chính quyền sẽ sụp đổ…Ý dân là ý trời … Dân là gốc. Gốc có vững thì nước mới yên. Dân cống nạp cho vua hưởng thụ. Vua bảo điều hay thì dân làm theo. Vua có trách nhiệm chăm lo đến đời sống của dân. Nếu không thì dân sẽ trở thành thù địch, vua mất ngôi, lộc trời sẽ hết ... Vua phải nuôi dân. Chính sự hay là dân no đủ… Phàm làm các công việc lớn phải công khai cho dân biết và bàn với dân… Trong các tác phẩm Thánh mô hiền phạm lục, Kiến văn tiểu lục có rất nhiều lời bàn của ông về trách nhiệm của quan trường với dân với nước. Trong sách Toàn Việt thi lục, ông lựa chọn hàng trăm bài thơ của người dân và coi đó cũng là của báu văn hóa cần gìn giữ.
Một tư tưởng rất tiến bộ của Lê Quý Đôn đó là triều đình (Nhà nước) phải chăm lo đến đời sống của nhân dân. Trong Kinh thư diễn nghĩa, ông viết: “Cái đạo trị thiên hạ của Bệ hạ, là dùng quy tắc của nước, quyền điều khiển trăm quan, phép bảo vệ muôn dân, sao cho công việc công bằng, là một việc lớn lao. Vậy nên người điều hành thiên hạ, há không nắm bắt chỗ cốt yếu hay sao? Hơn nữa, gốc lớn của thiên hạ, là ở tình người chia lìa hay hợp lại. Tình đã bị chia lìa thì tuy là thân thiết trong một nhà, cũng không thể làm cho cùng cường thịnh; tình đã được hợp lại, tuy xa nhau nơi bốn bể, cũng không cho phép được khác nhau. Các bậc thánh nhân đời xưa, thâu tóm lòng người, duy trì thế cố, là để khơi dậy cái nghĩa nối kết nhau thân thiết trong thiên hạ, triệt bỏ tận gốc thói quen hay làm trái, làm cho thiên hạ đều là một nhà, cả nước cùng một người. Làm sao cho không phải ý riêng tiểu số làm càn, cũng phải cứu xét nhân tình thế thái, không để cho dấy lên bừa bãi mà không ngăn chặn. Cho nên, việc thực thi giáo hoá, chỉ là để trị thất tình, sửa sang thập nghĩa, nhường nhịn, không tranh đoạt, khiến cho nhất nhất đều tuân theo lễ, há chẳng phải đã thấy rõ lý ấy mà làm hay sao?”. Mọi chính sách của vua ban ra phải hợp với lòng dân. Ông viết: “Vua phải nuôi dân, chính sự hay là nuôi dân no đủ”; “Muốn cho dân không oán thù, nguyền rủa thì phải làm thế nào? Duy có giảm hình phạt, đánh nhẹ tô thuế mà thôi”. Lê Quý Đôn cho rằng mọi chính sách của nhà nước phải làm cho dân no đủ, yêu thích sản xuất, yêu thích cuộc sống của mình, phải tạo cảnh yên cư vui vẻ cho dân. Ông còn viết triều đình phải vận hành “chính sự”, cụ thể là những việc nhằm khuyến khích sản xuất (làm lịch để dân biết thời vụ canh tác), có chính sách bảo vệ tài nguyên, coi trọng kỹ thuật sản xuất, trị thủy theo đúng quy luật của thủy văn... Về tài chính, nhà nước định chính sách thế khóa phải công bằng, chi dùng nên tiết kiệm, nhẹ bớt đóng góp của dân, nâng cao đời sống cho dân. Khi xây dựng các chính sách lớn, triều đình nên bàn với dân. Ông viết: Phàm làm các công việc lớn (như dời đô) phải công khai cho dân biết, và bàn bạc với dân. Để chính sách của nhà nước đi vào cuộc sống, Nhà nước phải giáo dục pháp luật cho dân. Phải thiết định pháp chế và phổ biết luật pháp sâu rộng cho dân biết. Khi thực thi pháp luật thì xét xử phải công bằng, không nhẹ với quyền quý, nặng với dân hèn. Xét xử phải có lòng thương xót và có mục đích giáo dục. Người hành pháp không được lợi dụng pháp luật. Ở mục Nghiêu điển, khi bàn về triều đại vua Thuấn, ông viết: “Coi trọng sự no đủ của dân, thuận theo thời vụ của nhà nông là có thể giúp đỡ chính sách nuôi dân, vỗ về nước xa, thương yêu nước gần, là có thể giúp cho việc trị nước có kết quả; hậu đãi người có đức tốt, tin dung người có lòng nhân, cự tuyệt kẻ gian thì không có sự lầm lỗi”. Một triều đình, một nhà nước thân dân, phải là nhà nước có các chính sách quản lý xã hội hướng đến đời sống của người dân và sự phát triển chung của quốc gia xã tắc, chứ không phải chính sách hướng đến sự giàu có xa hoa của một nhóm người, kể cả nhóm người ấy có là vua chúa trong triều đình.
Một điểm cũng hết sức quan trọng trong tư tưởng của Lê Quý Đôn về nhà nước thân dân đó là những người quân tử nói chung và của quan chức trong triều đình phải trong sạch, phải tu dưỡng, phải làm cho quan trường trong sáng... Về lĩnh vực này, trong các trước tác của Lê Quý Đôn, ông viết khá nhiều. Khi thì bàn về các tấm gương giữ mình trong cổ sử Trung Hoa, khi thì viết về các nội dung người quân tử cần tu rèn hàng ngày. Ngay khi còn là sĩ tử khoa thi năm Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752), ông đã viết: “Nói về cái đạo đối xử của người quân tử, thì điều gì người ở trên mình không ưa, không được đem cái đó sai bảo kẻ dưới; điều gì kẻ ở dưới mình ghét bỏ, không được đem cái đó phụng sự người trên. Để đưa đến chỗ trước sau, phải trái, đều được như nhau, rồi nhân sự đồng lòng đó mà suy ra để đo vật, làm cho trên dưới bốn bên ngay ngắn, thì người người đều có sở đắc, mà thiên hạ ổn định”. Ông cho rằng làm người quân tử thì phải tu dưỡng mình cho trong sạch theo cái đạo đối xử của người quân tử, những gi mình không ưa thì không được sai bảo cho kẻ dưới, những gì mình ghét bỏ không được phụng sự cho người trên. Từng kinh qua nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, Lê Quý Đôn đã dồn tâm lực cho những cải cách, những chỉnh đốn quan trường để vãn hồi và canh tân đất nước. Là một đại trí thức, Lê Quý Đôn đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ mà cho đến nay vẫn chưa khai thác hết các giá trị. Sách Vân Đài loại ngữ có thiên Sĩ quy, gồm 76 điều, ghi những điều mà người làm quan phải học, phải làm đúng để “trên thờ vua, dưới trị dân, giữ trọn chức trách, theo dòng chính sự, kẻ làm tôi có phép thường, đấng thánh nhân đã dạy sẵn, các vị tiên nho đời này qua đời khác lại càng nắm vững những lời dặc bảo ấy”. Cụ thể hơn, ông viết: “ Học sách vở của cổ nhân rồi hãy ra làm quan”. Ông dẫn lời của Khổng Phu tử bảo Tử Trương: “Mình có cái hay, thì chớ giữ riêng; dạy cho người kém thì không nên trễ biếng, việc đã qua, không nên soi mói, lỡ lời không nên chống đỡ; có làm điều gì bất thiện thì không nên bỏ qua, muốn làm việc gì hay thì không nên nấn ná. Người quân tử, đi làm quan, có đủ sáu điều ấy thì thân an, danh đạt mà theo đòi được chính sự”. Trong Thư kinh diễn nghĩa, ông nêu các yêu cầu về phẩm chất đạo đức của qua trường như sau: Vua phải có tài năng, quyết đoán, suy nghĩ sâu sắc, khoan thứ, giản dị, hiếu sinh. Đời tư trong sạch, lành mạnh, tận tụy với công việc, ham học hỏi, có chí đổi mới, cởi mở, tiếp thu ý kiến của mọi người, đoàn kết được mọi người. Phải đào tạo và sử dụng được hết các nhân tài, không bỏ sót. Phải hạn chế các thói xấu như ham chơi, hưởng lạc, rượu chè, gần bọn gian nịnh kiêu căng… Đối với các quan phải là bề tôi tài giỏi như Phó Duyệt, như Y Doãn. Chọn bề tôi tài là phải xem việc làm chứ không căn cứ lời nói… Ông cảnh báo: “Vua mà cũng rong chơi và ham mê vật dục thì bề tôi cũng lười biếng. Đầu mà phiền toái thì tay chân cũng trễ nải”… Tại sao phải xây dựng một quan trường trong sạch? bởi vì theo ông: “trong nước bình yên hay loạn lạc là do các quan (tài giỏi hay ươn hèn). Công việc trị nước từ ngàn xưa không thể vượt ra ngoài câu nói ấy. Được người tài giỏi gánh vác công việc thì nước bình yên thịnh trị, bị kẻ thân cận có đức xấu (tranh quyền cướp chức) thì nước loạn”.
Tư tưởng về một nhà nước thân của Lê Quý Đôn xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến của ông. Tấm lòng đó của ông sáng trong như vầng nhật nguyệt, đúng như Bùi Huy Bích đã viết: “mấy trăm năm mới có một người như thày” và có lẽ cho đến nay cũng “vẫn chưa có ai hơn được Lê Quý Đôn”.