Phát huy vai trò của khối liên minh công-nông-trí thức trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

08/05/2026

  • lượt xem: 2

ThS. GVC Nguyễn Thị Hồng Thuận - Phó Trưởng khoa Lý luận cơ sở

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác là một trong những quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học. Liên minh công - nông - trí thức là vấn đề tất yếu trong đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn cho thấy: mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều do thực hiện tốt liên minh công -nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khối liên minh này đóng vai trò là nền tảng, nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là liên minh chiến lược, động lực và sức mạnh to lớn để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự đảm bảo chắc chắn nhất thắng lợi của cách mạng. Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội” (1). Trong một chế độ xã hội đa dạng lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nên các giai - tầng lao động thông qua liên minh để hỗ trợ, bổ sung cho nhau cả trong sản xuất và đời sống là vô cùng quan trọng. Có thể thấy, sự đoàn kết, liên kết, hợp lực chặt chẽ của các giai - tầng chính là sức mạnh nội lực to lớn cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, nhất là trong kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức hiện nay.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV ghi dấu ấn đất nước ta chính thức bước vào kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Qua 40 năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, vị thế và uy tín được nâng cao. Kỷ nguyên mới đặt ra rất nhiều vấn đề thực tiễn mới đòi hỏi phải nhận thức thông suốt, giải quyết một cách đồng bộ, nhanh chóng với sự thống nhất, đồng thuận về tư tưởng và quyết liệt về hành động. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu phải phát huy cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh tổng hợp của các giai cấp, tầng lớp Nhân dân. Đây là lúc cần phải có những đổi mới mang tính đột phá, phát triển tăng tốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu không tăng cường sự đoàn kết, liên minh thì không những sự nghiệp đổi mới sẽ khó có thể thành công mà còn tạo ra “trở lực”, “điểm nghẽn” làm cho những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội mà Đảng ta đề ra trong Đại hội XIV khó đạt được. Vì vậy, phát huy vai trò khối liên minh công - nông - trí thức được Đảng ta rất coi trọng hiện nay. Văn kiện Đại hội XIV đề ra “Tám nội dung xuyên suốt tập trung triển khai các quyết sách chiến lược”, trong đó nhấn mạnh: “Kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích…” (2). Tổng kết 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: Liên minh công - nông - trí thức tại Việt Nam thời gian qua đạt thành tựu to lớn, là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Cụ thể:

Trên lĩnh vực kinh tế: Các giai - tầng lao động cùng với các lĩnh vực sản xuất đã có sự gắn kết khá chặt chẽ, huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế địa phương, đất nước. Trí thức, nhà khoa học hỗ trợ nông dân, công nhân chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, tạo ra các mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh và chuỗi giá trị nông sản chất lượng cao. Quá trình liên minh giúp tăng năng suất lao động, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Thực hiện đường lối đổi mới với chính sách đa dạng hóa các thành phần kinh tế đã tạo được sự phát triển năng động cho các ngành kinh tế, các giai - tầng lao động và mang lại kết quả phát triển tích cực. “GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.026 USD. Việt Nam ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình” (3). Nhiều ngành công nghiệp hiện đại, mũi nhọn như: dầu khí, điện tử, sản xuất và lắp ráp ô tô, đóng tàu biển, bưu chính viễn thông, tin học... phát triển nhanh. Công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ thị trường đóng vai trò động lực phát triển kinh tế đất nước. Cùng với đó, mức sống của công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp dân cư đều tăng. Vai trò của khối liên minh công - nông - trí thức còn đóng góp quan trọng vào thành công của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, thay đổi diện mạo nông thôn. Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp cũng tạo ra sự chuyển dịch lao động giữa các lĩnh vực, ngành nghề mà cơ bản là từ nông nghiệp sang công nghiệp, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Công tác quy hoạch, phát triển công nghiệp, khoa học công nghệ gắn với phát triển nông thôn, kết cấu hạ tầng hiện đại được chú trọng đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ giữa giai cấp công nhân - nông dân với đội ngũ trí thức. Số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân[1], trí thức tăng nhanh[2]; hình thành đông đảo bộ phận công nhân trí thức, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trên lĩnh vực chính trị: Khối liên minh công - nông - trí thức được củng cố, nâng cao nhận thức, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xu hướng trí thức hóa trong Đảng và hệ thống chính trị ngày càng tăng, phản ánh sự thống nhất về tư tưởng của các giai - tầng xã hội và sự phát triển về chất của hệ thống chính trị trong thời kỳ mới. Nhờ có khối liên minh mà chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của toàn dân tộc tiếp tục được bảo vệ, củng cố, giữ vững. Tỷ lệ đảng viên mới được kết nạp trong các giai - tầng lao động thời gian qua góp phần làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh cả về chất và lượng.

Dân chủ hóa ngày càng được rộng mở trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Những dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được đưa ra thảo luận, xin ý kiến đóng góp xây dựng của đông đảo quần chúng Nhân dân trước khi quyết định ban hành. Nhân dân tham gia đầy đủ, tích cực quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp [3]. Quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân, dù là công nhân, nông dân hoặc trí thức...đều bình đẳng như nhau. Vai trò tập hợp, đoàn kết của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được củng cố, góp phần tăng cường sự tham gia của công - nông - trí thức và toàn xã hội vào quá trình hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và âm mưu “diễn biến hòa bình”; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng và bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng vì mục tiêu, lợi ích chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trên lĩnh vực văn hóa-xã hội: Liên minh công - nông - trí thức ở nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng: đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao; xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ; giáo dục, y tế phát triển, góp phần củng cố và tạo lập sự đồng thuận xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao trình độ dân trí và văn hóa của công nhân, nông dân, trí thức. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, người có công, giảm tỷ lệ hộ nghèo nhanh (còn 1,3% năm 2025) (4) để thực hiện phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”. “Tuổi thọ trung bình của người dân không ngừng tăng lên, đạt 74,5 tuổi năm 2024. Chỉ số hạnh phúc được nâng lên, xếp thứ 46/143 quốc gia; chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện, đạt 0,766 điểm, là mức cao so với các nước có cùng trình độ phát triển (5). Cùng với đó, các vấn đề xã hội, vấn đề lợi ích cũng được giải quyết hài hòa ngay trong đời sống và sản xuất của các giai - tầng.

Tuy nhiên, thực hiện sự liên minh, liên kết cũng như việc phát huy vai trò của khối liên minh công - nông - trí thức ở nước ta trong thời gian qua còn có những hạn chế nhất định: Trong kinh tế, mối liên kết giữa nhà nông - nhà khoa học - doanh nghiệp chưa đồng bộ, tình trạng "được mùa mất giá" vẫn xảy ra. Khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa trí thức và công nhân - nông dân còn lớn. Một bộ phận công nhân, nông dân chưa kịp tiếp cận công nghệ mới, trí thức chưa bám sát thực tiễn sản xuất và chưa thực sự làm chủ khoa học, công nghệ. Sự cạnh tranh khốc liệt và xu hướng thực dụng làm giảm đi sự gắn bó chân thành trong một số mối quan hệ liên minh. Một bộ phận trong công - nông - trí thức chưa nhận thức và phát huy tốt quyền dân chủ, còn có biểu hiện hình thức hoặc quá trớn. Một số người nhận thức và thực hành pháp luật chưa tốt nên còn vi phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự, kỷ cương xã hội... Bên cạnh đó còn là những “rào cản” về nhận thức, năng lực, tâm lý, ý thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân như: sự bối rối, lúng túng do chưa xác định được chắc chắn những việc cần phải làm; sự nản chí, suy giảm nhiệt tình, tích cực do công cuộc sáp nhập, thay đổi vị trí công tác; những băn khoăn, trăn trở hoặc chưa đồng tình cao với sự thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính thời gian qua; những mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm, chính kiến…cũng ít nhiều tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết trong Nhân dân. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực phản động, thù địch đã ra sức tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Văn kiện Đại hội XIV nhận định: Phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh là việc làm cần thiết để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Cụ thể:

“Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, thực sự là giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam văn minh, phát triển toàn diện, có ý chí, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên; phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam vững mạnh toàn diện, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, giàu lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, có nhân cách và lý tưởng cách mạng, tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam…” (6).

Bên cạnh đó, Đảng ta cũng xác định phải phát huy vai trò xung kích, nâng cao năng lực cạnh tranh, tư duy đổi mới sáng tạo của đội ngũ doanh nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, góp phần xây dựng nền kinh tế tự chủ. Đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong thời đại mới (chiếm tỷ lệ cao trong các hoạt động kinh tế) và thế hệ trẻ với khát vọng vươn lên, làm chủ khoa học công nghệ. Trên tinh thần đưa đất nước tiến bước mạnh mẽ vào kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội XIV định hướng tập trung vào các nội dung sau đây:

Một là: Coi trọng phát huy "nhân tố con người", “nguồn nhân lực chất lượng cao”, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc thông qua các chính sách tạo động lực cho từng giai cấp, tầng lớp thực hiện vai trò đặc biệt của mình. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công nhân, nông dân và trí thức có kỹ năng, trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư. Trong đó, giai cấp nông dân được chú trọng cải thiện đời sống, đào tạo nghề và chuyển giao khoa học công nghệ để trở thành những người sản xuất chuyên nghiệp trong kỷ nguyên mới. Khuyến khích tầng lớp doanh nhân đóng góp vào sự nghiệp xây dựng kinh tế; trí thức đóng góp khoa học - kỹ thuật, tạo động lực phát triển mới. Đội ngũ trí thức đóng vai trò hạt nhân, kết hợp chặt chẽ với lao động công nghiệp và nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm, quy trình sản xuất mới, tăng năng suất lao động.

Hai là: Chuyển đổi nội dung liên minh từ chủ yếu dựa trên sản xuất truyền thống sang liên minh trí thức, công nghệ và kỹ năng nhằm phát triển kinh tế số, xã hội số. Đội ngũ trí thức hỗ trợ công nhân, nông dân nâng cao tay nghề, tiếp cận công nghệ mới, dần chuyển đổi thành "công nhân - trí thức" và "nông dân - trí thức". Trí thức đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo, chuyển giao công nghệ; công nhân ứng dụng kỹ thuật cao; nông dân sản xuất quy mô lớn. Liên minh tạo đột phá trong nông nghiệp thông minh, công nghiệp thông minh và kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Ba là: Xây dựng các chính sách đặc thù nhằm bảo đảm quyền lợi, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Kết hợp chặt chẽ giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, khắc phục tư tưởng lệch lạc, tự ti, mặc cảm. Tăng cường liên minh dựa trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các giai - tầng (công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân), đặc biệt là lợi ích kinh tế. Cần giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp để tạo sự ổn định, tin tưởng và đồng thuận, giúp nâng cao đời sống Nhân dân.

Bốn là: Chú trọng các mô hình liên minh, tập trung vào kết hợp "5 nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng), thúc đẩy trí thức hóa công nhân, nông dân và chuyển đổi số để nâng cao năng suất, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, công nghiệp công nghệ cao, phát triển kinh tế bền vững. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật trong việc tập hợp, vận động và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các giai - tầng. Khẳng định vai trò của Đảng là nhân tố quyết định đồng thời phát huy sức mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tập hợp đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp. 

Như vậy, phát huy mạnh mẽ vai trò khối liên minh công - nông - trí thức ở nước ta hiện nay nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đưa đất nước phát triển vượt bậc về chất lượng và vị thế quốc tế trên cơ sở lấy đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và tri thức làm động lực. Xây dựng khối liên minh vững chắc dựa trên sự bình đẳng, tự nguyện và lợi ích chung sẽ góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011,  t.15, tr.391.

2, 4, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG Sự Thật, H.2025, t.1, tr.36, tr.123.

3, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG Sự Thật, H.2025, t.2, tr.115, 206.

 

[1] Nếu như trước những năm đổi mới, số lượng công nhân nước ta là 7 triệu, đến năm 2007 là 9,5 triệu và năm 2013 tăng lên gần 11 triệu thì hiện nay đã có khoảng 16,5 triệu người” (PGS.TS Dương Trung Ý, Phó Giám đốc Học viện: Dự báo xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới,  http://www.congdoan.vn/tin-tuc/nghien-cuu-trao-doi-524/du-bao-xu-huong-bien-doi-cua-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-926137.tld).

[2] Từ con số vài trăm kỹ sư, bác sĩ sau khi đất nước giành được độc lập, đến nay, nước ta có thêm hàng triệu người có trình độ đại học và trên đại học, trong đó có gần 7.000 giáo sư và phó giáo sư đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học…” (ThS. Nguyễn Thị Vân Nga, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu và Thông tin khoa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phát triển nền kinh tế tri thức trong kỷ nguyên mới, Báo Nhân dân điện tử, Thứ Tư, 18/03/2026, 16:53:39 GMT+7).

[3] Theo kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, tổng số cử tri của cả nước là 76.436.561 người. Trong đó có 76.188.970 cử tri đã tham gia bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,68%”. (Báo điện tử Chính phủ, ngày 20/03/2026, 12:15).