Khi nghiên cứu về hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học rất quan tâm dự báo những đặc trưng của từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn đầu của xã hội cộng sản. Những đặc trưng cơ bản của giai đoạn đầu (xã hội xã hội chủ nghĩa) phản ánh bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác- Lênin đề ra những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội với tư cách một chế độ xã hội như sau:
Về kinh tế: là một xã hội dựa trên lực lượng sản xuất tiến bộ và quan hệ sản xuất với chế độ công hữu từng bước được thiết lập, củng cố.
Về chính trị: xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội dân chủ, nhà nước trong xã hội này là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Về văn hóa: trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa được phát triển hài hòa trên cơ sở kết tinh những giá trị của văn hóa nhân loại với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc- quốc gia.
Về xã hội: xã hội xã hội chủ nghĩa thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội giữa người với người, giữa các dân tộc, tộc người.
Về con người: con người được xây dựng theo nguyên tắc, phương thức mới: có đầy đủ tố chất về năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống cao đẹp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Về các phương diện đối ngoại: xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội giải quyết các quan hệ giữa giai cấp- dân tộc- quốc tế trên nguyên tắc hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng có lợi và không xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của nhau.
Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam đã tiến hành quá trình đổi mới nhận thức về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội dựa trên nền tảng quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đất nước, phát huy sức mạnh dân tộc để xác định ngày càng sáng rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những nội dung quan trọng nhất của Cương lĩnh là xác định được sáu đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều đó thể hiện sự đột phá về tư duy lý luận của Đảng. Đảng ta đã trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước.
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh của Đảng tiếp tục có những bổ sung, điều chỉnh về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với 8 đặc trưng lớn sau:
Đặc trưng thứ nhất: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Việc xác định trên cũng là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới của thời đại. Những mục tiêu trên không tách rời nhau mà bổ sung, làm cơ sở, điều kiện, tiền đề cho nhau. Trên đây là mục tiêu mang tính tổng quát, chiến lược, lâu dài mà Đảng và nhân dân ta quyết tâm thực hiện.
Đặc trưng thứ hai: Do nhân dân làm chủ
Đặc trưng này phản ánh quan điểm nhất quán của Đảng về chủ thể trung tâm là nhân dân, bác bỏ các luận điệu của thế lực thù địch khi cho rằng, chế độ ta không dân chủ,...Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chính trị mà là tổng thể các quyền trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa- XH và các lĩnh vực khác của đời sống.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII làm sâu sắc thêm đặc trưng này khi xác định, “phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm”; “Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”.
Đặc trưng thứ ba: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
Cơ sở của quan điểm này là ở chỗ, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, ở Việt Nam, khi trình độ của lực lượng sản xuất còn rất đa dạng, tất yếu có nhiều quan hệ sản xuất cùng tồn tại. Điều này có nghĩa, bên cạnh kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là chủ đạo còn có kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư từ nước ngoài và kinh tế hỗn hợp. Cùng với quá trình giải phóng, nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, cần thiết phải thiết lập quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Đây cũng không phải là “một bước thụt lùi”, một sự xa rời các nguyên tắc mác xít mà là sự đổi mới nhận thức cho phù hợp hơn với thực tiễn đất nước và thời đại. Nhận thức trên đây là một bước tiến có tính đột phá. Đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về Chính sách kinh tế mới và nhờ đó, đã khắc phục một bước tư duy chủ quan trong phát triển kinh tế, tiềm năng sáng tạo của nhân dân được khơi thông, nguồn lực xã hội được huy động tốt hơn.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII cụ thể hóa thể chế kinh tế và khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Đặc trưng thứ tư: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Khi đề cập đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã chỉ dẫn: chủ nghĩa xã hội phải tạo ra một nền văn hóa mới, văn hóa vô sản, trên cơ sở kế thừa tinh hoa của văn hóa nhân loại. Với cách mạng Việt Nam, từ năm 1943 khi Đảng ta chưa giành được chính quyền nhưng việc xây dựng nền văn hóa mới với những đặc trưng cơ bản là: Khoa học, dân tộc, đại chúng cũng đã được xác định với vai trò quan trọng.
Tính tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam là tổng thể các giá trị đại diện cho cái tiến bộ, nhân văn, hiện đại, phù hợp với xu thế vận động khách quan của lịch sử nhân loại. Nền văn hóa tiên tiến ấy phải là sự kết tinh những tinh hoa của nhân loại, được hình thành qua hoạt động sáng tạo của nhân dân và qua quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa. Nền văn hóa tiên tiến phải thể hiện tinh thần nhân văn cách mạng hướng tới giải phóng con người, phát triển và hoàn thiện con người.
Nền văn hóa Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng còn phải là nền văn hóa “đậm đà bản sắc dân tộc”, nó phải được thẩm thấu, được chọn lọc dựa trên cơ tầng văn hóa của dân tộc, trong đó sợi chỉ đỏ là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, là tâm hồn, tình cảm,, trí tuệ, khí phách Việt Nam
Đặc trưng thứ năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
Nếu như Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X xác định, “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện” thì Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) điều chỉnh thành: “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
Sự điều chỉnh này là cần thiết, đúng đắn và có cơ sở chắc chắn. Lý do bởi, mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người một cách triệt để, tạo điều kiện để con người phát triển tự do, toàn diện. Tuy nhiên, cần thấy rằng, đó là mục tiêu sau khi đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện, đầy đủ. Trong thời kỳ quá độ, mục tiêu đó từng bước mới đạt được.
Về phương diện thực tiễn, trong điều kiện lực lượng sản xuất của chúng ta phát triển chưa cao và rất đa dạng về trình độ, do đó còn tồn tại nhiều quan hệ sản xuất khác nhau thì mục tiêu khắc phục hoàn toàn ách áp bức, bất công là không thực tế. Việc điều chỉnh này cũng không phải là “một bước lùi” hay một sự xa rời mục tiêu mà là để tư duy phản ánh chính xác hơn thực tiễn cuộc sống nhằm khắc phục tư duy chủ quan, nóng vội đã từng tồn tại ở giai đoạn trước.
Đặc trưng thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển
V.I.Lênin đã có công lao to lớn trong việc đề xuất các nội dung quan trọng của vấn đề dân tộc, Người đã hình thành Cương lĩnh dân tộc, làm cơ sở để giải quyết quan hệ dân tộc trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, các dân tộc có quyền bình đẳng, có quyền tự quyết và liên hiệp công nhân các dân tộc.
Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh Đại hội VII (1991), nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc được tái khẳng định, được tiếp tục bổ sung, điều chỉnh trong Cương lĩnh năm 2011. Theo đó, Đảng ta bổ sung nguyên tắc “tôn trọng” và các nguyên tắc được đề cập là “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”. Việc bổ sung nguyên tắc “tôn trọng” giữa các dân tộc là cần thiết nhằm bảo đảm chiến lược đại đoàn kết dân tộc.
Đặc trưng thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn của đất nước và kế thừa thành tựu của nhân loại, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, một trong những sáng tạo của Đảng ta là đã xác định được một hình thức nhà nước phù hợp điều kiện Việt Nam. Nhà nước ấy là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhà nước pháp quyền là nhà nước hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, vận hành theo các nguyên tắc dân chủ, tôn trọng quyền con người, quyền công dân, mọi công dân sống và làm việc theo quy định của pháp luật, nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo song Đảng hoạt động trong khuôn khổ các quy định của Hiến pháp và pháp luật…
Đặc trưng thứ tám: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế
giới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, việc tăng cường, đẩy mạnh hợp tác với các nước trên tinh thần hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước và cùng có lợi là định hướng đúng. Lựa chọn này không chỉ phản ánh bản chất ưu việt của chế độ xã hội Việt Nam mà còn phù hợp với xu thế của thời đại. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”.
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin về các đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội sao cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đảng đã kết hợp hài hòa giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù”, cái chung và cái riêng để đưa ra các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng. Các đặc trưng trên được Đảng xác định tổng thể, toàn diện, phù hợp thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Qua đó góp phần hình thành, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ, hiện thực hóa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011
2. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021
3. V.I.Lênin: Toàn tập, t.42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977