ThS. Trần Thị Nhâm - Khoa Lý luận Cơ sở
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc. Đảng ta đã chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính; cuộc kháng chiến đó sẽ lâu dài, gian khổ nhưng nhất định đi đến thắng lợi.
Mặc dù lực lượng vũ trang còn non trẻ, trang bị thô sơ nhưng với truyền thống yêu nước, tinh thần quả cảm, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân cả nước đã phát huy cao độ sức mạnh toàn dân chiến đấu chống lại quân đội thực dân đế quốc hùng mạnh. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm thất bại hoàn toàn kế hoạch Nava, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ tạo nên “vành hoa đỏ, thiên sử vàng” trong lịch sử dân tộc.
Chiến tranh nhân dân được hiểu là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Toàn dân tham gia đánh giặc bằng tất cả các lực lượng và phương tiện sẵn có: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(1). Nội dung đường lối chiến tranh nhân dân đã được Đảng nêu trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 12-12-1946, đó là: "Đoàn kết chặt chẽ toàn dân; thực hiện toàn dân kháng chiến"(2). Đường lối chiến tranh nhân dân tiếp tục được bổ sung, phát triển trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19-12-1946): “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc.”(3).
Đảng kêu gọi, động viên, tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến bằng cách đưa họ vào các đoàn thể, tổ chức kháng chiến, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Phương châm tác chiến của chiến tranh nhân dân là: phát động chiến tranh du kích, tiến từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy ở trình độ ngày càng cao, quy mô ngày càng lớn.
Dân quân du kích lúc đó trở thành một lực lượng rất lớn có tinh thần đánh giặc cứu nước cao. Với hệ thống làng chiến đấu được xây dựng mạnh mẽ, rộng khắp, các lực lượng dân quân du kích của ta đã liên tiếp tấn công địch, buộc chúng phải phân tán đối phó trên khắp các chiến trường, chống càn quét thắng lợi để bảo vệ làng mạc, có kinh nghiệm tác chiến và đã cướp được nhiều vũ khí của địch để trang bị cho mình.
Bộ đội địa phương hình thành từ năm 1948 trên cơ sở tập trung lại các đại đội độc lập và một bộ phận các đơn vị dân quân du kích, đã đảm nhiệm nhiệm vụ tác chiến trong địa phương, tiêu diệt quân địch, phối hợp tốt với bộ đội chủ lực và dân quân du kích.
Bộ đội chủ lực của ta lớn mạnh nhanh chóng, có tính cơ động cao. Các đại đoàn và trung đoàn chủ lực đều đã được củng cố về tổ chức, tăng cường về trang bị vũ khí, chủ yếu do lấy được của địch và một phần do ta tự sản xuất trong hoàn cảnh gian nan thiếu thốn và từ sự giúp đỡ của các nước anh em. Quân chủ lực của ta tiến bộ rõ rệt về trình độ tác chiến, chiến thuật do trải qua các đợt huấn luyện và được rèn luyện qua các chiến dịch lớn, tích lũy được kinh nghiệm về đánh vận động và đánh địch trong công sự, đặc biệt thiện chiến trên chiến trường rừng núi, tích cực, chủ động, linh hoạt.
Đảng ta đã chú trọng tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội, tăng cường công tác lãnh đạo giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng, không ngừng nâng cao bản chất cách mạng, bản chất giai cấp của quân đội. Các cuộc chỉnh huấn chính trị làm cho quân đội nhận rõ mục tiêu chiến đấu của mình: Vì độc lập dân tộc, ruộng đất dân cày và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tinh thần yêu nước, khí thế cách mạng và ý chí căm thù giặc được nâng cao. Nhân dân ta với niềm tin tuyệt đối, đoàn kết một lòng với Đảng, Chủ phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.
Về công tác hậu cần, thực hiện khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, các địa phương đã cung cấp 23.000 tấn gạo, 266 tấn muối, gần 2.000 tấn thực phẩm, cùng gần 21.000 chiếc xe đạp thồ, gần 1.000 con ngựa thồ, hơn 3.000 chiếc thuyền và hơn 261.400 lượt dân công với 12 triệu ngày công phục vụ chiến dịch”(4). Đánh giá về sức mạnh của nhân dân trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “chưa bao giờ trong suốt mấy năm kháng chiến, dân ta đã góp sức nhiều như trong Đông Xuân 1953 - 1954, chi viện cho quân đội giết giặc. Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân”(5)
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã để lại cho cách mạng Việt Nam bài học sâu sắc cần được kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay.
Một là, bài học về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, luôn lấy dân là gốc, nhân dân là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần của nhân dân cả nước là vô cùng to lớn, nhờ đó mới huy động được sức người, sức của phục vụ chiến dịch đến ngày toàn thắng. Ngày nay, sự đóng góp, ủng hộ của nhân dân trong và ngoài nước về vật chất, tinh thần để xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần huy động và tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế tham gia có hiệu quả các hoạt động nêu trên để đạt được mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hai là, bài học về tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ hiện nay là: đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Ba là, phải luôn khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng độc lập, hòa bình và ý chí tự lực, tự cường của dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước; tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây chính là cội nguồn sức mạnh để tiếp tục củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Bốn là, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Không ngừng xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh; xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có đầy đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực.
Trên các chặng đường lãnh đạo nhân dân đấu tranh hướng đến mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Ðảng luôn chăm lo bồi đắp, bảo vệ, thắt chặt mối quan hệ giữa Ðảng và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân đã tin tưởng, đoàn kết chung quanh hạt nhân lãnh đạo, thực hiện đường lối, chủ trương của Ðảng, tham gia xây dựng, bảo vệ Ðảng. Trí tuệ và vai trò lãnh đạo của Ðảng, sức sáng tạo và lực lượng to lớn của nhân dân đã kết thành sức mạnh vô địch, tạo nên những kỳ tích của dân tộc Việt Nam. Trong mọi chiến lược, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Ðảng và Nhà nước luôn hướng đến nhân dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu; kiên quyết khắc phục những sai lầm, hạn chế, bất cập, những chủ trương, chính sách xa rời thực tiễn, đấu tranh chống mọi âm mưu và hành động xuyên tạc đường lối của Ðảng, phá hoại mối quan hệ giữa Ðảng và nhân dân. Ðường lối của Ðảng là động lực thúc đẩy nhân dân tin tưởng, tham gia phong trào cách mạng do Ðảng lãnh đạo và gắn bó với Ðảng.
Năm là, tăng cường công tác đối ngoại nhân dân giữ vững sự ổn định chính trị và thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Đối ngoại nhân dân tiếp tục được Đảng ta phát huy để đẩy khơi dậy tiềm năng, nguồn lực của đất nước đồng thời tranh thủ thời cơ, sự hợp tác của các nước trên thế giới để đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ là vô cùng lớn lao, oanh liệt, cổ vũ cho toàn thể nhân dân ta tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng. Bài học lịch sử về thế trận lòng dân, chiến tranh nhân dân từ Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên giá trị hôm nay và mai sau soi đường cho các thế hệ tiếp tục phát huy truyền thống cha ông, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.155.
2. ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 150
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.534.
4. Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, t.1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, tr. 305 - 306.
5. Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr.158 - 159.