Th.s. Phạm Đức Nghĩa - Khoa Xây dựng Đảng
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 03/02/1930 là một tất yếu lịch sử, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập là sự ra đời của một Đảng cộng sản “cách mạng” và “chân chính”, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tính chất “cách mạng” và “chân chính” của Đảng ta trong quá trình ra đời được thể hiện ở nền tảng lý luận và thực tiễn, mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, phương pháp và lực lượng cách mạng của Đảng.
Thứ nhất, về nền tảng lý luận và thực tiễn cho sự ra đời của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là sự kết tinh của Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng cộng sản ra đời là sự kết kết hợp của hai yếu tố chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân. Tuy nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến với nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Vì vậy trong khi các Đảng cộng sản trên thế giới được thành lập là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân thì ở Việt Nam có thêm một yếu tố là phong trào yêu nước. Đây là đặc thù riêng biệt tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc sâu rộng, bản chất cách mạng, chân chính của Đảng ngay từ khi thành lập. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản chân chính, cách mạng ở Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách Mệnh Bác Hồ chỉ rõ: “Kách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng Kách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững Kách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(1); “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, Kách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.”(2) Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết tinh nền tảng lý luận cách mạng tiên tiến, triệt để, khoa học của Chủ nghĩa Mác; sự giác ngộ lý tưởng cách mạng và trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam; sự thấm nhuần, tiếp thu lý tưởng cách vô sản của phong trào yêu nước, chuyển từ chủ chủ nghĩa yêu nước chân chính thuần túy của dân tộc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin.
Thứ hai, về mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Trong “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã xác định mục tiêu chiến lược: "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Với mục tiêu, lý tưởng cách mạng này thể hiện bản chất của một chính đảng cách mạng, chân chính, đảng lãnh đạo, kêu gọi và tập hợp quần chúng Nhân dân tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chính quyền phong kiến và đế quốc thiết lập chính quyền vô sản, nhà nước dân chủ Nhân dân, xây dựng xã hội Cộng sản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột giai cấp. Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; cứu nước gắn liền với cứu dân; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định rõ mục tiêu là đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng chân chính bởi Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Thứ ba, về nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng chỉ rõ: Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và tay sai, giành độc lập dân tộc, tự do, dân chủ.
Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và phong kiến, tay sai; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông.
Về kinh tế: Thủ tiêu quốc trái, tịch thu sản nghiệp của đế quốc, tịch thu ruộng đất của đế quốc và phong kiến chia cho dân cày.
Về văn hóa - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
Với nhiệm vụ cách mạng của Đảng được xác định trong Chính cương vắn tắt đã nhằm trúng hai kẻ thù là Đế quốc pháp xâm lược và phong kiến tay sai phản động, giành chính quyền cách mạng, thực hiện “độc lập dân tộc, ruộng đất dân cày”. Nhiệm vụ cách mạng được thực hiện một cách triệt để nó giải quyết được yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng Nhân dân, giải quyết được hai mâu thuẫn, nhiệm vụ cơ bản của xã hội Việt Nam đó là dân tộc và dân chủ.
Thứ tư, về phương pháp cách mạng của Đảng. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào yêu nước và đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ nhưng lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và tổ chức, phương pháp lãnh đạo. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tư sản tuy thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn nhưng đều lần lượt thất bại, không đáp ứng được yêu cầu lịch sử đặt ra. Cách mạng Việt Nam cần có một lực lượng chính trị mới – một chính đảng có hệ tư tưởng khoa học, cách mạng với mục tiêu chân chính và phương pháp cách mạng đúng đắn để dẫn dắt dân tộc đi tới độc lập, tự do.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh đầu tiên đã thể hiện tính “cách mạng” và “chân chính” thông qua việc xác định phương pháp cách mạng: “sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng (công nông) để đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành chính quyền”. Phương pháp này mang tính khoa học, sáng tạo, cách mạng, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc - giai cấp và phù hợp thực tiễn Việt Nam. Phương pháp tiến hành cuộc cách mạng một cách kiên quyết và triệt để: Sử dụng bạo lực cách mạng để đấu tranh giành chính quyền, bao gồm bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang của quần chúng. Theo đó, phương pháp các mạng là phải bạo lực lật đổ chính quyền thống trị thực dân - phong kiến giành chính quyền cách mạng về tay giai cấp công nhân và quần chúng Nhân dân: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(3). Qua đó, Đảng đã khắc phục được hạn chế so với phương pháp cải cách, cải lương, thỏa hiệp, khước từ với con đường cứu nước phong kiến và dân chủ tư sản mà tiến hành phương pháp của một cuộc cách mạng vô sản, vận dụng quan điểm “bạo lực giành chính quyền”, “bạo lực đánh đổ bởi bạo lực” của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ năm, về lực lượng cách mạng. Đảng chỉ rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày”; “ Đảng phải liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông”; “phú nông, trung sản địa chủ và tư bản An nam mà chưa lộ rõ mặt phản cách mạnh thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”; “Trong khi liên lạc với các giai cấp phải rất cẩn thận không khi nào nhượng bộ một chút lợi gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”(4). Với quan điểm tập hợp lực lượng cách mạng của Đảng thể hiện tính chất thấm nhuần quan điểm giai cấp, phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt tập hợp lực lượng hướng tới mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng, lợi ích dân tộc, không “thỏa hiệp” giai cấp để xa rời mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng. Đó là một sự tập hợp lực lượng một cách “rộng lớn, triệt để” nhưng vẫn giữ được bản chất giai cấp và cách mạng của một chính Đảng cộng sản mà không rơi vào tình trạng thỏa hiệp, lừng chừng cách mạng, cách mạng không triệt để.
Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua hơn chín thập kỷ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, thực hiện công cuộc đổi mới; tác động của nền kinh tế thị trường, tình trạng suy thoái về tư tưởng đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên... đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng tự chỉnh đốn, tự đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một chính đảng cầm quyền. Vì vậy, công tác xây dựng Đảng phải thực sự trở thành yêu cầu thường xuyên, cấp thiết hiện nay. Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Đảng đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/1/2012 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Trong nhiệm kỳ khóa XII, Đảng tiếp tục ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng đã tổng kết và đề ra Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về “đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định: “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh, nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”(5). Để làm cho Đảng ta luôn xứng đáng “ là đạo đức, là văn minh”; “Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc”, giữ đúng bản chất “chân chính, cách mạng”, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Hai là, tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức, gắn với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ theo hướng khách quan, minh bạch, vì việc chung.
Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Qua đó, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.
Năm là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ và xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, lắng nghe ý kiến góp ý, phản biện của Nhân dân đối với Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác Đảng. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Như vậy, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định là một Đảng “cách mạng” và “chân chính”, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lấy lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Trải qua hơn chín thập kỷ lãnh đạo cách mạng, dù trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, Đảng luôn chứng tỏ bản lĩnh chính trị vững vàng, mục tiêu, lý tưởng đúng đắn và vai trò tiên phong, cách mạng, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân. Trong bối cảnh mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đặt ra đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là tiếp tục củng cố, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(6).
Tài liệu tham khảo:
(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 267 - 268
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 289
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr 292.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 3
(5),(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIV.