ThS. Trần Thị Nhâm - Khoa Lý luận Cơ sở
Tóm tắt: Vấn đề dân tộc được Đảng ta đưa vào đặc trưng thứ sáu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) thế hiện nội dung bao trùm nhất của chính sách dân tộc là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Tuy nhiên đây cũng là một trong các lĩnh vực mà thế lực phản động, thù địch của Chủ nghĩa xã hội thường xuyên chống phá. Chúng phủ nhận đặc trưng trên của Cương lĩnh để từ đó phủ nhận phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy cần tuyên truyền đặc trưng dân tộc trong Cương lĩnh 2011 để khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước đồng thời phản bác các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, củng cố niềm tin trong nhân dân.
1. Đặc trưng dân tộc (đặc trưng thứ sáu) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Việt Nam có 54 tộc người, trong đó có 53 tộc người thiểu số với địa bàn sinh sống chủ yếu tại khu vực miền núi, điều kiện thời tiết không thuận lợi, diện tích canh tác thấp, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng vừa thiếu vừa kém nên đời sống kinh tế- xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số kém phát triển, tỷ lệ hộ nghèo cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ thấp nhất là lĩnh vực y tế, giáo dục..., còn tồn tại khoảng cách giàu nghèo giữa miền núi với đồng bằng. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng các chính sách dân tộc nhằm giải quyết các quan hệ tộc người ở Việt Nam, thúc đẩy sự bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực xã hội và hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế- xã hội. Cùng với đó, Đảng ta đã đưa đặc trưng dân tộc vào một trong sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991) và là một trong tám đặc trưng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Điều đó thể hiện sự quan tâm nhất quán của Đảng ta đến vấn đề dân tộc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm 6 đặc trưng cơ bản nhất, đặc trưng thứ năm xác định rõ “Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”. Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta cũng khẳng định: “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cũng phát triển” (1; 173). Như vậy, Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) tái khẳng định các nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc. Đồng thời Đảng ta bổ sung nguyên tắc “tôn trọng” với ý nghĩa đây là sự tôn trọng của dân tộc đa số đối với các dân tộc thiểu số, khắc phục các biểu hiện cực đoan trong quan hệ dân tộc nảy sinh trong điều kiện kinh tế thị trường. “Tôn trọng, giúp đỡ nhau” không chỉ là coi trọng giá trị của người khác, sự tử tế, lòng nhân ái, mà thực sự là đòi hỏi, yêu cầu, và điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc. Và có tôn trọng thì mới có bình đẳng, đoàn kết thực sự giữa các dân tộc.
Cũng trong đặc trưng thứ sáu này, Cương lĩnh 2011 thay từ “tiến bộ” bằng từ “phát triển” vì các dân tộc tôn trọng nhau hướng tới mục tiêu giúp nhau phát triển để cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh 2011 còn mở rộng phạm vi đại đoàn kết dân tộc: “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” thay cho “các dân tộc trong nước”, điều đó thể hiện Đảng, Nhà nước luôn đề cao vai trò của các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam từ trong dựng nước, giữ nước và trong xây dựng phát triển kinh tế- xã hội, qua đó củng cố tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lôi kéo những phần tử bất mãn với chế độ, bôi nhọ, phủ định những thành quả, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc trưng dân tộc trong Cương lĩnh để kích động thù hằn nhằm chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.
2. Nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đặc trưng dân tộc (đặc trưng thứ sáu) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cũng phát triển”, thế nhưng các thế lực phản động, thù địch đã lợi dụng những khó khăn, hạn chế đời về sống của đồng bào dân tộc thiểu số để thổi phồng, xuyên tạc, rêu rao về bất bình đẳng dân tộc trong chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trên lĩnh vực chính trị, chúng hô hào rằng, đồng bào dân tộc thiểu số không được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, các ý chí và nguyện vọng không được thực hiện, không có các quyền chính trị, không được tôn trọng....Những luận điệu giả dối, sai trái này khi được các thế lực thù địch, phản động tuyên truyền rộng rãi sẽ gây hoang mang trong dư luận, dao động trong tâm lý đồng bào, làm xói mòn niềm tin với sự lãnh đạo của Đảng. Chúng sử dụng chiêu thức “mưa dần thấm lâu”, dần dần từ hoài nghi, nhiều người đã tin theo kẻ địch, tiếp tay cho việc tuyên truyền, chống phá của chúng, gây mất ổn định chính trị- xã hội.
Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, chúng xuyên tạc, bịa đặt rằng Đảng, Nhà nước đối xử bất công, không đầu tư, chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số, khiến cho cuộc sống của họ nghèo đói, khó khăn, thiếu thốn. Các thế lực phản động lồng ghép, so sánh một chiều, siêu hình đời sống vật chất, tình hình phát triển kinh tế- xã hội giữa các vùng nhằm xuyên tạc rằng “Đảng, Nhà nước Việt Nam “phân biệt đối xử” với các dân tộc thiểu số”. Từ đó tạo ra tâm lý tự ti, mặc cảm dân tộc, cảm giác bị bỏ quên.... Chúng ra sức lợi dụng những yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở, khó khăn, bức xúc của đồng bào các dân tộc, qua đó xúi giục họ đòi tách ra lập nhà nước riêng, dẫn đến chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, ảnh hưởng an ninh chính trị- xã hội.
Trên lĩnh vực văn hóa, chúng vu khống Đảng, Nhà nước không tôn trọng các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam “phân biệt đối xử”, “ngược đãi đồng bào dân tộc thiểu số”. Chúng triệt để lợi dụng các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội chính trị để xuyên tạc mối quan hệ giữa đồng bào dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh mục đích hình thành tư tưởng hận thù dân tộc.
Như vậy, âm mưu thủ đoạn của chúng là thông tin sai lệch, phủ nhận bản chất chính sách, đặc trưng dân tộc nhân văn, tốt đẹp trong Cương lĩnh 2011, làm mất uy tín của Đảng để hình thành lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số, thúc đẩy xu hướng ly khai, tự trị dân tộc, gây ra các vụ xung đột, bạo loạn, khủng bố…
3. Đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đặc trưng dân tộc (đặc trưng thứ sáu) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Trước hết, phải khẳng định rằng từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở tiếp thu quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Người nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”. Tư tưởng đó sau này được coi là nguyên tắc Hiến định trong Hiến pháp Việt Nam qua các năm 1946, 1959, 2013. Và đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng tiếp tục phát triển nhận thức, bổ sung, điều chỉnh về các nguyên tắc trong quan hệ dân tộc, tộc người.
Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “... Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”(2; 170).
Với sự quan tâm, sát sao trên với chính sách dân tộc, mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu:
Về chính trị, đồng bào các dân tộc ít người được tôn trọng và bảo vệ các quyền chính trị, bình đẳng, không phân biệt đối xử. Công dân Việt Nam thuộc các dân tộc ít người có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân như mọi công dân khác. Hiện nay tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ máy chính trị đã ngày càng tăng lên đáng kể. Kết quả bầu nhân sự cấp ủy tại 67 Đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025 ghi nhận cấp ủy viên người dân tộc thiểu số là 389 đồng chí, đạt tỷ lệ 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72% (3).
Về kinh tế: Giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam có Chương trình mục tiêu quốc gia dành riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước ta không ngừng đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.
Về văn hóa, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đảm bảo quyền tự do, đa số người dân theo các tôn giáo sống tốt đời đẹp đạo, tuân thủ pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Về y tế: Nhà nước hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn. Đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em dưới 6 tuổi, ngày càng có nhiều cơ hội được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản.
Về giáo dục: Quy mô, mạng lưới trường, lớp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở là thành tựu nổi bật của Việt Nam.
Những kết quả nêu trên cùng với hệ thống chính sách dân tộc ngày càng hoàn thiện đã khẳng định sự quan tâm, nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc hiện thực hóa đặc trưng về dân tộc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Đây là minh chứng phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận đặc trưng dân tộc trong Cương lĩnh 2011. Qua đó, đồng bào các dân tộc thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào bản chất nhân văn của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng.
Một số giải pháp đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đặc trưng dân tộc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011):
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc trong đó có đặc trưng dân tộc của Cương lĩnh 2011.
Hai là, xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh, phản bác quan điểm, luận điệu sai trái lợi dụng vấn đề dân tộc.
Ba là, chủ động phối hợp với các lực lượng trong nắm bắt, nhận diện âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc của đồng bào các dân tộc thiểu số
Bốn là, tăng cường hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đồng bào phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo gắn với giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo tốt đẹp.
Năm là, thường xuyên củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường tiềm lực, lực lượng và “thế trận lòng dân” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng phương án, kế hoạch phòng, chống bạo loạn, khủng bố.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị: Nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tr 173.
2. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 170
3.http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Chinh-tri/982524/27-bi-thu-tinh-thanh-uy-khong-phai-nguoi-dia-phuong