Nghiên cứu Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng: Ý nghĩa quá trình đổi mới nhận thức của Đảng cộng sản Việt Nam về đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta sau 40 năm đổi mới

21/01/2026

  • lượt xem: 5

ThS. Nguyễn Thị Hồng Thuận - Phó trưởng khoa Lý luận cơ sở

Đặc trưng là gì? Có thể hiểu đó là những nét, những thuộc tính riêng biệt, nổi bật và tiêu biểu nhất tạo nên bản sắc độc đáo của một sự vật, hiện tượng hay cá thể nào đó. Đây những yếu tố riêng có, không giống nguyên si hay là bản sao trùng lặp với bản thể khác. Để nhận biết được đặc trưng thường phải tập trung vào dấu hiệu bên ngoài, mang tính độc đáo và khác biệt, giúp nhận dạng và phân loại. Đặc trưng là cái riêng có, thậm chí là “cái đơn nhất” trong mối quan hệ với cái chung. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: nhận thức một sự vật, hiện tượng nào đó để định hình các đặc trưng cụ thể phải trải qua một quá trình lâu dài từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhận thức về các đặc trưng (mô hình) của xã hội xã hội chủ nghĩa (tương lai là cộng sản chủ nghĩa) cũng vậy.

Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước (trong đó có Việt Nam) sẽ là cơ sở, động lực, căn cứ xác thực cho việc hình thành nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH. Đồng thời, qua thực tiễn để thấy quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng đổi mới nhận thức lý luận về CNXH là một trong những thành tựu quan trọng, nổi bật qua 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH bao gồm các nội dung rất rộng lớn, đa dạng, phong phú, từ xác định mục tiêu, đặc trưng đến phương hướng cùng các mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết trong xây dựng CNXH ở nước ta. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến quá trình Đảng ta hình thành và đổi mới tư duy nhận thức về các “đặc trưng” (hay còn gọi là mô hình) của xã hội XHCN ở Việt Nam. Đây chính là điều mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, định hình, định hướng suốt gần trọn thế kỷ XX. CNXH là con đường tất yếu mà dân tộc ta phải đi, nhưng con đường đó như thế nào, có đặc trưng, hình hài ra sao…, câu trả lời không hề đơn giản. Mặc dù ai đó có thể cho rằng do nhận thức, tư duy chính trị của Đảng còn hạn chế nên chậm trễ, lúng túng trong việc xác định đặc trưng của xã hội XHCN ở nước ta, song công bằng mà nói, việc thiết kế mô hình của một chế độ xã hội mới chưa từng có trong tiền lệ là việc không hề trơn tru, dễ dàng. Đây là quá trình được ví như việc “dò đá qua sông”, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không ngừng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Đảng ta cũng đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội ở nước ta cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX như sau:“Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là do những sai lầm, hạn chế trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…”(1). Biểu hiện cụ thể: năm 1930, khi mới thành lập, mặc dù Đảng ta đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”(2), nhưng xã hội đó là gì và xây dựng như thế nào thì chưa thể đề cập tới. Quá trình 45 năm từ khi Đảng ra đời lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám (1930 - 1945) rồi 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) đến đấu tranh chống đế quốc Mỹ (1954 -1975) với rất nhiều gian nan, vất vả nên Đảng ta chưa xác định rõ CNXH cần xây dựng ở nước ta gồm những đặc trưng gì. Giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc bắt tay xây dựng CNXH và hỗ trợ miền Nam đánh Mỹ cũng mới là những bước đi ban đầu mang tính “thử nghiệm”, chủ yếu học tập mô hình, kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN anh em. 15 năm sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (1975 - 1990), việc xây dựng CNXH vẫn tiếp tục ở trong mục tiêu, chủ trương và tư duy chính trị của Đảng, song con đường đó có những đặc trưng như thế nào cũng chưa được chỉ rõ. Đặc biệt, từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, CNXH ở Liên Xô Và các nước Đông Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị thoái trào thì việc chưa xác định rõ ràng mô hình xã hội XHCN cần phải xây dựng ở Việt Nam là một trong những “tâm điểm” để các thế lực thù địch, phản động tập trung công kích, chống phá. Không ít người hoài nghi về một Liên Xô XHCN hùng cường với 74 năm xây dựng CNXH (vốn đã có một mô hình rõ nét, từng được mệnh danh là ‘thành trì của CNXH”) mà còn khủng hoảng, lung lay thì nói gì đến các nước chưa xác định rõ mô hình, con đường cụ thể? Sự nghi ngại đó càng lớn dần khi các thế lực phản động, thù địch tăng cường xuyên tạc, kích động, hí hửng chờ đợi một “sự cáo chung của hệ thống XHCN trên phạm vi toàn thế giới”. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH, công bố CNXH cần được xây dựng ở nước ta có 6 đặc trưng. Bao gồm: 1. Do nhân dân lao động làm chủ; 2. Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; 3. Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 4. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; 5. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; 6. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới(3). Sáu đặc trưng này là sự khái quát cô đọng nhất tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện tính ưu việt của CNXH cần được tập trung xây dựng ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Lần đầu tiên sau 6 thập kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã xác định rõ mô hình của xã hội XHCN cần được xây dựng ở Việt Nam với 6 đặc trưng. Càng giá trị hơn khi giữa lúc CNXH ở Liên Xô vào các nước Đông Âu đang bên bờ sụp đổ thì tại Việt Nam, lập trường XHCN không những vẫn tiếp tục được kiên trì, kiên định mà mô hình XHCN còn được định hình rõ nét hơn bao giờ hết. Đó cũng chính là bản lĩnh Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào cũng không nản chí, chùn bước trước khó khăn. Qua đây tiếp tục củng cố tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta vào con đường đi lên CNXH do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn. Một lần nữa, “quyền tự quyết dân tộc” của Việt Nam theo quan điểm của V.I.Lê-nin lại được Đảng ta phát huy mạnh mẽ trong thời khắc cam go của lịch sử.

Bước sang thế kỷ XXI, đứng trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, biến động: Xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ, cạnh tranh kinh tế gay gắt, những bất ổn chính trị-xã hội…đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực hội nhập, phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, giữ vững độc lập, chủ quyền, thông qua nhiều chiến lược và giải pháp để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, nhất là thách thức cạnh tranh với nền kinh tế lớn. Một lần nữa, thực tiễn đất nước lại đặt ra yêu cầu Đảng phải tiếp tục đổi mới, phát triển tư duy lý luận, nhất là về xây dựng CNXH ở Việt Nam. Tại Đại hội X (năm 2006), Đảng ta đã bổ sung, phát triển từ 6 lên 8 đặc trưng của xã hội XHCN cần xây dựng ở nước ta. Bao gồm các đặc trưng: 1. Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2. Do nhân dân làm chủ; 3. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; 4. Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; 6. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; 7. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; 8. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới(4). Như vậy, bên cạnh 6 đặc trưng đã nêu từ Đại hội VII năm 1991, Đảng đã bổ sung thêm 02 đặc trưng là: “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. Đặc trưng đầu tiên thể hiện mục tiêu tổng quát của xã hội XHCN cần được xây dựng ở nước ta, bao hàm một hệ giá trị thấm đượm tinh thần nhân văn, nhân đạo mà toàn Đảng, toàn dân cần hướng tới xây dựng. Đặc trưng về xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN nhằm giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế, giúp cho xã hội ngày càng ổn định, trật tự, đảm bảo và phát huy tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân.

Tiếp tục đến Đại hội XI (2011), Đảng ta đã bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991, trong đó, 8 đặc trưng của xã hội XHCN cần được xây dựng ở nước ta hiện nay. Đó là: 1. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2. Do nhân dân làm chủ; 3. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; 4. Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5. Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; 7. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới(5). Tuy vẫn là 8 đặc trưng đã nêu tại Đại hội X nhưng một số thuật ngữ, diễn đạt được chỉnh sửa, điều chỉnh để đảm bảo sự khúc chiết, tường minh, phù hợp với thực tế hơn. Việc điều chỉnh một số từ ngữ, thành tố trong từng đặc trưng không phải là sự thay đổi câu, chữ đơn thuần. Đó là sự trăn trở, cẩn trọng, tinh tế trong việc diễn đạt các đặc trưng như thế nào cho ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ hiểu mà lại sát đúng, phù hợp với thực tế khách quan. Sự thay đổi đó thể hiện tính khoa học, tôn trọng thực tiễn và sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận của Đảng ta.

Từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục xây dựng CNXH với 8 đặc trưng đã nêu trên. Mặc dù phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức và vẫn còn những hạn chế nhất định, song không thể phủ nhận những thành tựu trong nhận thức và xây dựng CNXH ở nước ta gần một thế kỷ qua. Năm 2021, tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “…Lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa”(6). Và năm 2025, sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, trong đó có phương diện lý luận. Tổng kết quá trình đổi mới nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam sau 40 năm đổi mới, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV nhấn mạnh: “Như vậy, trải qua quá trình tìm tòi, đúc kết và phát triển những vấn đề lý luận cơ bản, toàn diện về CNXH và con đường đi lên CNXH, ...Đảng ta cũng đã nhận thức sâu sắc hơn nội hàm của từng đặc trưng và mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc trưng”(7). Có thể coi đây là một trong những thành tựu quan trọng về mặt lý luận mà Đảng ta đã vận dụng một cách trung thành và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước. Đây là những nhận định xác đáng, thể hiện cái nhìn khách quan, toàn diện, sát đúng với thực tiễn quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Do đã có nhiều công trình, bài viết đề cập hoặc phân tích kỹ lưỡng đến dụng ý và những điểm mới trong nhận thức các đặc trưng này của Đảng ta nên chúng tôi xin phép không nêu lại. Bài viết này chỉ nhấn mạnh quá trình đổi mới nhận thức về các đặc trưng của CNXH cần được xây dựng ở nước ta, chỉ rõ ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn của vấn đề này.

 Hiện nay, đất nước ta đang bước vào “Kỷ nguyên mới” với nhiều thời cơ và vận hội nhưng cũng phải đối mặt với không ít nguy cơ, thách thức. Tin tưởng rằng, với tư duy chính trị nhạy bén, tích cực đổi mới, đột phá, sáng tạo, Đảng ta sẽ không ngừng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiếp tục cụ thể hóa các đặc trưng của xã hội XHCN ở nước ta trên thực tiễn. Đồng thời, với quyết tâm chính trị cao của Đảng cùng cả hệ thống chính trị dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, các đặc trưng của CNXH ở nước ta sẽ được cụ thể hóa rõ nét và sớm xây dựng thành công trong “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”!.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQGST, H.2025, tr.81.

 2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, t.3, tr.1.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H.1991, tr.8-9.

 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQGST, H.2006, tr.68.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQGST, H.2011, tr.70.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, tr.25.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQGST, tr.94.